You are currently browsing the daily archive for 11/04/2009.

TRẦN HẢI HẠC – Truờng ĐH Paris 13

Mùa hè 2007, cách đây một năm, Robert Zoellick, sau khi nhậm chức chủ tịch mới của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB), đã chọn đến Việt Nam trong chuyến thăm đầu tiên các nước đang phát triển, để ca ngợi điều mà ông gọi là “câu chuyện thành công” (success story) của Việt Nam trong tăng trưởng và giảm nghèo. Ông còn nêu triển vọng năm 2010, Việt Nam sẽ rời danh sách các nước nghèo để trở thành một nước có thu nhập trung bình (tổng sản phẩm GDP tính theo đầu người vượt 900 USD).[2] Trước đó, phó chủ tịch phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương, Jim Adams,  không ngần ngại khẳng định “Việt Nam là mô hình mẫu mực về phát triển và chống nghèo, đặc biệt do phân phối lại công bằng lợi ích kinh tế giữa các tầng lớp xã hội”. Đáp lễ, phía Việt Nam cho rằng “nhờ hỗ trợ quí báu của Ngân hàng Thế giới mà Việt Nam đã giảm một cách ấn tượng tỷ lệ đói nghèo từ 58% năm 1993 xuống dưới 20% năm 2004”.[3]

Tuy đây là nhận định phổ biến trong chính quyền Việt Nam và các định chế tài chính quốc tế, song không phải không có những tiếng chuông khác. Một trong những văn bản sau cùng của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt lên tiếng về “người nghèo – những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa – trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng”. Nói đến những viên chức quốc tế đánh giá cao thành quả của Việt Nam, ông nhắc nhở “những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước, và chúng ta hiểu khoảng cách giữa thực tế và báo cáo còn đáng kể”.[4] Đồng thời,  một bản cáo của nhiều nhà nghiên cứu thuộc Chương trình đại học Havard ở Viêt Nam cảnh báo chính phủ về triệu chứng ‘cục cưng’: “Ngân hàng thế giới và nhóm các nhà tài trợ đồng minh của họ làm ngơ trước mọi diễn biến tiêu cực ở Việt Nam chỉ vì họ cần ít nhất một ví dụ thành công để chứng minh rằng viện trợ chính thức (ODA) có tác dụng”.  Bản báo cáo nhắc nhở rằng “Indonesia đã từng  là ‘cục cưng’ của WB cho đến đêm trước khủng hoảng 1997, và sự rối loạn về chính trị sau đó đã tiêu huỷ triển vọng tăng trưởng của quốc gia này trong suốt một thập kỷ. Việt Nam hiện nay đang được chọn để diễn vai trò của Indonesia trước đây. Kinh nghiệm của Indonesia cho thấy, làm ‘cục cưng’ có cái khoái nhất thời nhưng cái nguy dài hạn. Sau khi Indonesia thất bại, WB đã không ngại ngần chỉ trích những thất bại trong chính sách của nước này một cách không thương xót”.[5] Đọc tiếp »

Advertisements

TRẦN NAM BÌNH – Atax, Faculty of Law, UNSW, Sydney, NSW 2052, Australia

1. Dẫn nhập

Tuy khẩu hiệu Đổi Mới đã chính thức xuất hiện tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI tháng 12 năm 1986, đa số các nhà nghiên cứu đồng ý dùng năm 1989 làm mốc bắt đầu cho quá trình xây dựng kinh tế thị trường tại Việt Nam.[1]  Trong trên dưới hai thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể: tăng trưởng cao,[2] xóa đói giảm nghèo nhanh, phát triển hạ tầng cơ sở, mở rộng mậu dịch quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, vv.  Tuy Việt Nam hiện nay đang gặp một số khó khăn kinh tế như lạm phát cao, thâm hụt tài khoản vãng lai, thị trường chứng khoán và bất động sản mất giá, nhưng đây có thể xem là những bất ổn định ngắn hạn mà Việt Nam có thể vượt qua với những chính sách vĩ mô và vi mô thích hợp và đồng bộ.  Thật ra, những khó khăn kinh tế hiện nay có thể xem là động cơ tốt cho Đổi Mới đợt hai cho Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO.  Nói khác đi, vấn đề chính của Việt Nam không phải là những bất ổn vĩ mô ngắn hạn, mà là phát triển bền vững.

Từ quan điểm cung, phát triển bền vững đòi hỏi sự tăng trưởng đồng bộ và hài hòa của các nhân tố sản xuất: vốn con người, vốn nhân tạo, vốn xã hội và vốn môi sinh.  Trong bốn nhân tố sản xuất đó, các nhà kinh tế thường ít chú ý đến vốn xã hội hơn cả.  Lý do chính cho sự sao lãng này là vì vốn xã hội là một ý niệm không cụ thể như các nhân tố sản xuất khác.  Vốn xã hội khó có thể xác định số lượng, và do đó không thể mang vào những mô hình kinh tế nghiêm túc.  Một vài thành phần của vốn xã hội gồm có sự thành thật, lòng tin và tính cộng tác của các tác nhân kinh tế.  Tuy nhiên, những khía cạnh này lại tùy thuộc rất nhiều vào sự phân phối thu nhập, tài sản và tiêu thụ giữa các thành viên trong xã hội.

Nói chung, sự phân bổ nguồn lực giữa các thành viên là một vấn đề hàng đầu cho tất cả xã hội văn minh, bất kỳ thời nào và bất kỳ chỗ nào.  Nó không phải là một vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn có chiều kích xã hội và chính trị quan trọng.  Trong lâu dài, bình đẳng/bất bình đẳng kinh tế có ảnh hưởng lớn lao đến sự ổn định/bất ổn định và ngay cả sự tồn vong của một cơ cấu xã hội hay thể chế chính trị.  Do đó, chúng ta không mấy ngạc nhiên khi thấy rằng sự phân phối các sản phẩm kinh tế giữa các thành viên trong xã hội là một trong bốn câu hỏi cơ bản nhất của bất kỳ nền kinh tế loại nào (truyền thống, thị trường, chỉ huy hay hỗn hợp): sản xuất hàng hóa nào và bao nhiêu, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai và phát triển kinh tế ra sao?  Đây là bốn câu hỏi luôn dược nhấn mạnh trong bài mở đầu của kinh tế học nhập môn.

Bài viết này tập trung vào góc cạnh phân phối thu nhập của phát triển bền vững.  Cụ thể hơn, bài viết xem xét vai trò của chênh lệch/bất bình đẳng kinh tế, lòng ghen tỵ và thiếu thốn tương đối phát triển bền vững tại Việt Nam.  Động cơ thúc đẩy bài tham luận này như sau.  Thứ nhất, như sẽ thảo luận trong phần kế, chênh lệch thu nhập tại Việt Nam có xu hướng tăng lên.  Cho đến nay, vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì xu hướng này sẽ ngừng hay đảo lại.  Thứ hai, các nhà kinh tế, nhất là kinh tế phát triển, tuy quen thuộc với các ý niệm như như biểu đồ Lorenz và chỉ số Gini,[3] nhưng có thể vẫn còn hơi xa lạ với ý niệm thiếu thốn tương đối.  Bài viết này muốn giới thiệu ý niệm thiếu thốn tương đối và những hàm ý chính sách của ý niệm này đến các người đọc quan tâm đến phát triển kinh tế tại Việt Nam.

Đọc tiếp »

Xem hình

Kết quả lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Sacombank (STB) được Công ty Kiểm toán PriceWaterhouseCoopers (PWC) chấp thuận thấp hơn 133 tỷ đồng, tương đương hơn 10% so với kết quả lợi nhuận mà ngân hàng này công bố trước đó. Tỷ lệ hơn 10% không phải là con số nhỏ (theo Thông tư 38/2007/TT-BTC, mức chênh lệch từ 5% là DN phải có báo cáo giải trình) và dư luận có quyền đặt câu hỏi, đó có phải là sự cố tình của Sacombank để làm đẹp báo cáo tài chính?

Khoản chênh lệch 133 tỷ đồng lợi nhuận là do sự khác biệt về phương pháp trích lập dự phòng giảm giá đối với loại cổ phiếu chưa niêm yết không có giá giao dịch trên thị trường hoặc giá không đủ cơ sở tin cậy.

Sacombank sử dụng phương pháp chiết khấu dòng cổ tức dự kiến thu được trong tương lai so sánh với giá trị sổ sách. Nếu giá thấp hơn giá trị sổ sách thì STB trích lập dự phòng. Còn PWC chọn trích lập bằng cách so sánh giá thị trường so với giá trị sổ sách. Giá thị trường được xác định là giá từ bảng giá tham chiếu của các công ty chứng khoán hoặc so sánh xu hướng với cổ phiếu cùng ngành.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH

Theo quyết định 443/QĐ-TTg mới ban hành, chính sách hỗ trợ lãi suất sẽ kéo dài đến hết năm 2011, như một công cụ chống suy thoái kinh tế.

Nhiều chuyên gia kinh tế vẫn cho rằng công cụ này không có tiền lệ, cũng như chưa thấy được áp dụng ở các nước khác, nên hoài nghi khả năng thành công của nó. Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, thì về nguyên lý đây là một công cụ can thiệp hiệu quả, nếu mục tiêu của nó là kích thích đầu tư.

Về bản chất đây là việc sử dụng chính sách tài khoá để làm đòn bẩy cho chính sách tiền tệ. Một mặt, để đạt được hiệu quả tăng tổng đầu tư của nền kinh tế, Chính phủ không phải huy động một nguồn tài chính trực tiếp quá lớn.

Mặt khác, việc hỗ trợ lãi suất giúp không phải hạ mặt bằng lãi suất chung, mà vẫn giúp doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay rẻ, trong khi đó, người gửi tiền vẫn được hưởng lãi suất tiền gửi đủ cao, đủ để tiền không rời bỏ hệ thống ngân hàng (tránh tình trạng bẫy thanh khoản).

Về mặt tài khoá, có thể ước lượng sơ bộ số tiền cần thiết để thực thi chính sách này. Năm 2008, tổng đầu tư nội địa ước vào khoảng 520 ngàn tỉ, và giá trị danh nghĩa tăng thêm mỗi năm từ 20% đến 30% tuỳ theo điều kiện của nền kinh tế.

Đọc tiếp »

TS. Phạm Gia Minh

(TuanVietNam) – Những lãng phí về tiền bạc đã được thấy rõ khi phải đình hoãn, di chuyển địa điểm thực hiện dự án do tiến hành mà thiếu công khai và trao đổi thông tin. Nhưng nguy cơ về cái mất lớn hơn, khó định lượng là lòng tin với chính quyền. Bài học về minh bạch thông tin và đối thoại nóng hổi với bô-xít Tây Nguyên, chợ 19-12 và khách sạn Novotel on the park.

>> Chính phủ sẽ xem lại hiệu quả kinh tế bô-xít Tây Nguyên
>> Đại dự án bô-xít Tây Nguyên và ý kiến nhiều chiều

Lãng phí tiền của – lòng tin bị tổn thương

Hà Nội đang xem xét khả năng bố trí một khu đất khác cho dự án khách sạn Novotel on the park “lỡ” khởi công trong khuôn viên công viên Thống Nhất, trên cơ sở phải rà soát lại khoản tiền đã bỏ ra làm móng và tầng hầm mà chủ đầu tư công bố là hơn 14 triệu USD!
Trước đó, thành phố cũng đã phải bố trí diện tích gần 1000 m2 ở 41 Hai Bà Trưng để “đền bù” cho chủ đầu tư của dự án Trung tâm thương mại 19/12 vốn gây nhiều bất bình trong dư luận.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2009
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements