You are currently browsing the daily archive for 07/04/2009.

Xem hình

Có nhiều lý do khiến các bản báo cáo tài chính không minh bạch và một trong số đó là cổ phiếu bị đánh giá quá cao (overvaluation). Giá cổ phiếu cao đồng nghĩa với kỳ vọng cao của nhà đầu tư về khả năng sinh lợi của công ty, từ đó gây sức ép lên các nhà lãnh đạo buộc phải tạo ra mức lợi nhuận tương ứng nếu không muốn nhận phản ứng tiêu cực từ thị trường. Mặt khác, các nhà lãnh đạo cũng nắm giữ một số lượng lớn cổ phiếu, nên bản thân họ không muốn giá cổ phiếu bị sụt giảm.

Những lý do này khiến các nhà quản lý khó có lựa chọn nào khác hơn là tìm những thủ thuật phù phép báo cáo tài chính. Tuy nhiên, những thủ thuật này chỉ là biện pháp đối phó nhằm tạo ra ảo tưởng công ty đang làm ăn phát đạt. Vì thế, một khi nhà đầu tư phát hiện doanh nghiệp thiếu minh bạch trong cung cấp thông tin, hậu quả sẽ khó lường. Lấy Enron làm ví dụ, chính kỳ vọng quá lớn của thị trường đã đẩy các nhà lãnh đạo Enron tới hành vi gian lận tài chính. Sau khi bị phanh phui, giá trị của Enron nhanh chóng bị tụt xuống dưới mức 1 tỷ USD so với giá trị thực khoản 30 tỷ và kết cục sau cùng là phá sản.
Trong bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến những thủ thuật hợp pháp, tuân thủ theo chuẩn mực kế toán, mà các doanh nghiệp Mỹ thường sủ dụng, song cũng không mấy xa lạ với doanh nghiệp Việt Nam.

Đọc tiếp »

Advertisements

MAI HẰNG

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn vừa ký ban hành Thông tư số 62/2009/TT – BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Theo nhiều chuyên gia, sửa đổi lần này đã cởi mở hơn rất nhiều.

Thu nhập không chịu thuế: minh bạch hơn

Các khoản thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công của cá nhân cư trú như sau: Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại VN. Mức trợ cấp được tính trừ căn cứ trên hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ (hoặc thanh toán) cho người lao động là người nước ngoài về phép mỗi năm một lần. Khoản tiền học phí cho con của người nước ngoài học tại VN theo bậc học phổ thông do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ căn cứ vào hợp đồng lao động và chứng từ nộp tiền học.

Đọc tiếp »

Trong báo cáo mới nhất của mình, Ngân hàng thế giới (WB) đã ca ngợi những chính sách xử lý khủng hoảng của Việt nam và tin rằng nguy cơ khủng hoảng tài chính ở Việt Nam là thấp.

Theo đánh giá mới nhất 6 tháng đầu năm của WB đối với tình hình kinh tế của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương mang tên "Cập nhật Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương với tựa đề Nỗ lực đẩy lùi Suy thoái kinh tế toàn cầu" thì nguy cơ khủng hoảng tài chính ở Việt Nam là thấp.
Cụ thể, theo WB thì tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là không đáng kể do các ngân hàng của Việt Nam không tiếp cận với các sản phẩm “độc hại” cũng như không nằm trong quyền kiểm soát của các ngân hàng nước ngoài trong diện rủi ro cao.

Lo ngại về những vấn đề trong nước bắt nguồn từ việc cho vay đầu tư bất động sản thiếu thận trọng vào cuối 2007 đầu 2008 đang dần lắng xuống. Hầu hết các khoản vay giải ngân trong giai đoạn bong bóng giá tài sản đều đến kỳ đáo hạn mà không cần phải tăng biên độ.

TIN LIÊN QUAN

Đọc tiếp »

TRƯƠNG THỊ TRANG

Theo http://www.stox.vn, tính đến hết ngày 27/3, có 88 DN niêm yết đã công bố báo cáo tài chính (BCTC) năm 2008 kiểm toán, trong đó 69 DN (chiếm 75%) có sự chênh lệch về lợi nhuận sau thuế (LNST) giữa BCTC kiểm toán và BCTC sơ bộ công bố trước đó.

Lý do chính vẫn là dự phòng!

Nguyên nhân dẫn đến chênh lệch nêu trên chủ yếu là việc trích lập các khoản dự phòng đầu tư tài chính chưa đầy đủ. STB có chênh lệch 114 tỷ đồng (-12%), theo giải trình của STB, là do sự khác biệt về phương pháp trích lập dự phòng giảm giá đối với các loại cổ phiếu chưa niêm yết của Ngân hàng so với phương pháp mà công ty kiểm toán đưa ra. ABT chênh lệch 84%, nguyên nhân được DN giải trình là do trích lập thêm dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn 21,1 tỷ đồng. KHA chênh lệch 7,6 tỷ đồng (-19,83%), cũng do trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn 6,3 tỷ đồng. PIT chênh lệch hơn 2 tỷ đồng (-14,11%), do tăng trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn 3,5 tỷ đồng… Đọc tiếp »

Nhân cuộc tổng điều tra dân số theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin về dân số Việt Nam trong thời gian qua để bạn đọc tham chiếu các chỉ tiêu liên quan đến dân số.

Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm 1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm.
Trong đó:
– Thời kỳ 1921 – 1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm;
– Thời kỳ 1943 – 1951 tăng 56,1 nghìn người/năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và số người bị chết trong chiến tranh.
– Thời kỳ 1951 – 1957 tăng 753 nghìn người/năm hay tăng 3,03%/năm;
– Thời kỳ 1957 – 1976 tăng 1.135,8 nghìn người/năm hay tăng 3,08%/năm;
– Thời kỳ 1976 – 1985 tăng 1.190,2 nghìn người/năm hay tăng 2,21%/năm;
– Thời kỳ 1985 – 2008 tăng 1.142,9 nghìn người/năm hay tăng 1,60%/năm;
Riêng thời kỳ 2000 – 2008 tăng 1.065,6 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,31%/năm.

Đọc tiếp »

HỮU CHIẾN

TCCS ĐT – Sau những bất đồng và căng thẳng tưởng chừng không thể vượt qua, lãnh đạo các nền kinh tế lớn của thế giới tham dự Hội nghị các nền kinh tế lớn và mới nổi (G20) đạt kết quả được cho là "vượt xa cả sự mong đợi”. Trong đó, quan trọng nhất là thoả thuận chung về cách thức đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, quyết định bơm thêm hơn 1.000 tỉ USD vào nền kinh tế thế giới thông qua các định chế tài chính quốc tế. Tuy nhiên, các đồng thuận còn lại phần nhiều vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu tính cụ thể và triệt để do các nước không dễ từ bỏ lợi ích riêng.

Dấu ấn châu Âu

Trái với lo lắng của một số nước về mâu thuẫn gay gắt giữa Mỹ và châu Âu trong cách thức giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới có thể sẽ khiến hội nghị bị đổ vỡ, đây lại là một trong những chủ đề gặt hái được nhiều kết quả quan trọng nhất. Trong khi Oa-sinh-tơn chủ trương vực dậy nền kinh tế bằng những khoản tiền khổng lồ giữa lúc ngân sách đang cạn kiệt, Liên minh châu Âu (EU) đứng đầu là Pháp, Đức lại đưa ra một loạt đề nghị khác tập trung nỗ lực điều tiết tài chính thế giới vì cho đây là nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu hiện nay.

Thủ tướng Đức A.Méc-ken cho rằng: "khủng hoảng xảy ra không phải do chúng ta chi ít tiền, mà bởi chúng ta tạo ra tăng trưởng kinh tế với quá nhiềutiền và sự tăng trưởng này không bền vững; do vậy, giải pháp để vượt qua khủng hoảng là "không lặp lại những sai lầm cũ".

Trong khi đó, Tổng thống Pháp N. Xác-cô-di tuyên bố không chấp nhận một "hệ thống tài chính tư bản vô nguyên tắc và vô đạo đức", thậm chí còn dọa rút khỏi Hội nghị nếu những đề xuất của Pháp về cải tổ hệ thống tiền tệ và tài chính quốc tế không được giải quyết.

Tuy nhiên, cuối cùng các nhà lãnh đạo G20 đã cam kết thắt chặt những quy định đối với các quỹ đầu cơ, tăng cường vai trò của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trừng phạt các "thiên đường" thuế, kiểm soát các công ty xếp hạng, giới hạn tiền lương và thưởng của giới chủ, xem xét lại các chuẩn kế toán quốc tế và tạo ra một cơ quan giám sát chặt chẽ các ngân hàng.

Đọc tiếp »

LƯU ĐỨC KHẢI – HÀ HUY NGỌC

I – Sự hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 91/TTg, ngày 7-3-1994, về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ. Các tổng công ty (TCT) được thiết lập trong hàng loạt các ngành, một số trường hợp các TCT chiếm toàn ngành. Tuy nhiên, hoạt động của nhiều TCT nhà nước còn thiếu năng động trong kinh doanh, chất lượng sản phẩm chưa được cải tiến đáng kể, sản lượng thấp.

Ý tưởng về những tập đoàn kinh tế (TĐKT) được Thủ tướng Chính phủ đưa ra ngay từ khi quyết định thành lập TCT 91, nhưng phải đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001), vấn đề thành lập TĐKT mới được đề cập một cách cụ thể. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: "Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân…" (1).

Triển khai Nghị quyết này, tháng 11-2005, TĐKT đầu tiên của nước ta là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TVN) ra đời và đi vào hoạt động, theo Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg, ngày 8-8-2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc thành lập công ty mẹ. Cùng năm đó, TCT Dệt may Việt Nam cũng chuyển thành Tập đoàn Dệt may Việt Nam; TCT Bảo hiểm Việt Nam cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt. Năm 2006, TCT Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT) chuyển thành Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), TCT Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý để TCT Thuốc lá Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Thuốc lá Việt Nam; chỉ đạo, yêu cầu Bộ Xây dựng xây dựng đề án thành lập Tập đoàn Công nghiệp xây dựng (do TCT Sông Đà làm nòng cốt), và Tập đoàn Chế tạo cơ khí nặng (do TCT Lắp máy Việt Nam làm nòng cốt); TCT Cao su Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.

Đọc tiếp »

Cơn mưa lớn chiều 1/8/2008 tại khu vực trung tâm TP HCM có lượng mưa lên tới 130mm khiến nước tràn vào tầng hầm để xe của Ngân hàng Đại Tín, số 75 Hồ Hảo Hớn, phường Cô Giang, quận 1. Nước mưa tràn vào hầm, dâng cao tới 1m khiến chiếc xe ôtô hiệu Mercedes của ngân hàng này bị ngâm dưới nước, gây hư hỏng toàn bộ hệ thống điện, giá trị sửa chữa hết khoảng 400 triệu đồng.

Sau sự cố trên 3 ngày, Ngân hàng Đại Tín mới thông báo sự việc này cho bảo hiểm và tiến hành các thủ tục yêu cầu bảo hiểm 3A bồi thường nhưng phía 3A từ chối bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng Đại Tín với lý do: Sự việc trên không phải là yếu tố rủi ro bất ngờ, phía bảo hiểm 3A chỉ đồng ý hỗ trợ mức 50 triệu đồng để chia sẻ thiệt hại với khách hàng và Ngân hàng Đại Tín đã không chấp thuận.

Sự việc tranh chấp này, về phía ngành bảo hiểm, ông Phùng Đắc Lộc, Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho biết: "Trong trường hợp này, người tham gia bảo hiểm là Ngân hàng Đại Tín đã không mẫn cán trong việc khắc phục sự cố. Diễn biến nước mưa tràn ngập tầng hầm xe kéo dài từ 16h đến 17h30′ nên không thể cho đó là sự cố bất thường hoặc không lường trước được".

Còn theo luật sư Bùi Quang Nghiêm, Phó đoàn luật sư TP HCM thì bảo hiểm 3A không có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho Ngân hàng Đại Tín do không xảy ra sự kiện bảo hiểm giữa các bên bởi những lý do: Việc chiếc ôtô Mercedes của Ngân hàng Đại Tín bị hư hỏng nặng là một rủi ro nhưng không mang yếu tố bất ngờ, nghĩa là Ngân hàng Đại Tín không thể cho rằng mình không thể lường trước được những thiệt hại có thể gây ra với chiếc xe Mercedes.

Đọc tiếp »

LÊ THỊ HỒNG HẠNH- KTNN khu vực I

Kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghi kiểm toán là bước cuối cùng của một quy trình kiểm toán. Vấn đề này đảm bảo cho hiệu lực kiểm toán được thực thi. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi xung quanh việc kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghị của KTNN qua hoạt động thực tiễn. Có thể nói đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạt động KTNN, hiệu lực của KTNN đạt được hay không thể hiện ở các khuyến nghị kiểm toán có được thực hiện không. Thông qua việc thực hiện Kiến nghị kiểm toán là điều kiện để nhìn nhận đánh giá lại hoạt động kiểm toán, các khuyến nghị kiểm toán đưa ra có phù hợp hay không, có đam rbảo tính khả thi hay không? Do vậy, đa số các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới đều coi trọng việc thực hiện các khuyến nghị của mình đưa ra. Tùy từng quốc gia khác nhau mà quy định vấn đề này cũng khác nhau. Các kiến nghị của cơ quan kiểm toán có đảm bảo được thực hiện hay không đòi hỏi trong quá trình kiểm toán, các KTV phải đưa bằng chứng và lý lẽ phù hợp đối với vấn đề kiến nghị. Việc kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán sẽ thông qua hoạt động kiểm toán (không thành một quy trình riêng). Các KTV trong quá trình kiểm toán năm sau sẽ xem xét đến các kiến nghị lần trước có được thực hiện hay không. Trường hợp không được thực hiện họ sẽ cân nhắc xem liệu có tiếp tục kiến nghị tiếp hay không. Trong những trường hợp đặc biệt cơ quan kiểm toán sẽ kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để các cơ quan này có hành động thích hợp buộc các đơn vị phải tông trọng thực hiện kiến nghị kiểm toán của KTNN.

Ở VN, việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán được đề cao và thành một bước của quy trình kiểm toán đó là kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Luật KTNN được Quốc hội Khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 quy định quy trình kiểm toán của KTNN gồm 4 bước trong đó bước thứ tư là kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. KTNN có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghị đối với các cơ quan, đơn vị đã thực hiện kiểm toán và báo cáo việc thực hiện kết luận, kiến nghị với Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Đối với các cơ quan, đơn vị, Luật KTNN quy định nghĩa vụ thực hiện kết luận, kiếnnghị kiểm toán của cơ quan KTNN. Đối với các sai phạm về tài chính ngân sách sẽ phải thực hiện ngay và báo cáo với cơ quan KTNN và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về kết quả thực hiện. Đối với những kiến nghị liên quan đến cải tiến công tác quản lý, đơn vị được kiểm toán phải có biện pháp để thực hiện. Đối với trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, KTNN có quyền đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý như quy định tại khoản 4 điều 16 Luật KTNN.

Đọc tiếp »

Trần Nga (Theo TBKTVN)

Sau gần hai năm gia nhập WTO, ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng khá cao nhưng chưa đi liền với tính chuyên nghiệp. Đây là quan điểm có trong hầu hết các ý kiến tham luận về chuyên đề bảo hiểm trong tại hội thảo đánh giá tác động sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), diễn ra tại Hà Nội, ngày 11/9/2008.


Vẫn tăng trưởng ấn tượng

Theo đánh giá chung của những ý kiến trên, sau gần hai năm gia nhập WTO, ngành bảo hiểm đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, có nhiều sản phẩm cơ bản đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, xã hội, đặc biệt đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ phí bảo hiểm đầu tư vào phát triển kinh tế quốc dân.
Báo cáo từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và Vụ Bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, năm 2007, khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có doanh thu gần 8.400 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2006; với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là 9.400 tỷ đồng, tăng 12%. Trong đó, các doanh nghiệp có doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ lớn là Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO, Bảo hiểm Dầu khí…
Ông Phùng Đắc Lộc, Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam nhận định, cuối năm 2007 đến nay, trong cơn “sóng gió” từ lạm phát cao, sự biến động của thị trường vàng, chứng khoán, bất động sản…, ngành bảo hiểm vẫn đứng vững và đạt được sự tăng trưởng ấn tượng.
Cụ thể, 6 tháng đầu năm, bảo hiểm phi nhân thọ vẫn đạt doanh thu 5.562 tỷ đồng tăng 43% so với cùng kỳ năm 2007. Tương ứng, tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 5.027 tỷ đồng (trong đó phí bảo hiểm các sản phẩm chính đạt 4.853 tỷ đồng), tăng 13,58% so với năm 2007.
Về quy mô ngành, nếu trong năm 2002 cả nước có 20 doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động, thì đến cuối tháng 12/2007 lên tới 40 doanh nghiệp, với tổng tài sản là 58.000 tỷ đồng.
Theo ông Đỗ Anh Tuấn, Vụ Bảo hiểm (Bộ Tài chính), chính với sự phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, cộng với qui định tăng vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm đã làm tăng nguồn vốn điều lệ và khả năng thanh toán của các doanh nghiệp trong ngành.
Với quy mô đó, tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đã huy động được để đầu tư trở lại cho nên kinh tế cũng đã tăng mạnh, từ 30.660 (năm 2006) tỷ đồng lên hơn 44.940 tỷ đồng (năm 2007), trong đó năm 2001 chỉ đạt gần 5.790 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, cũng theo báo cáo từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, số lượng sản phẩm bảo hiểm cũng gia tăng mạnh, đến nay đã có gần 1000 sản phẩm. Trong đó có những sản phẩm cho những ngành quan trọng như dầu khí, hàng không, đóng tàu, xây dựng cầu đường… đã gián tiếp tăng cường vốn đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước vào lĩnh vực bảo hiểm.

Đọc tiếp »

NGUYỄN CAO KHÔI

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Diễn đàn doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2008, đến nay Việt Nam có khoảng 350.000 doanh nghiệp (DN) đã đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 1.415 nghìn tỷ đồng, tương đương với 86 tỷ USD. Trong những năm qua, số DN đăng ký mới tăng trung bình khoảng 25%/năm; vốn đăng ký tăng gần 49%/năm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 95% tổng số DN nêu trên, thu hút hơn 50% tổng số lao động. Thực tế, các DNNVV phát triển rất nhanh, đóng góp trên 40% cho GDP và tạo việc làm cho gần 3,4 triệu người lao động. Dự kiến đến năm 2010, số DNNVV sẽ phát triển lên 320.000 theo “Kế hoạch phát triển DNNVV 2000 – 2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ trong năm 2008 đã làm cho nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn. Nhiều DNNVV Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đó và có nguy cơ phải ngừng hoạt động (giải thể, phá sản, mua bán, sáp nhập, hợp nhất…). Hiện có khoảng 20% số DNNVV đang trong tình trạng rất khó khăn và có nguy cơ phá sản1 do thiếu vốn, không vay được vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh. Do vậy, cần phải xem xét, đánh giá thực trạng trên một cách khách quan, toàn diện để tìm ra những giải pháp thích hợp vì lợi ích chung của cả DN, ngân hàng và nền kinh tế.

1. Việc phá sản DN trong cơ chế thị trường là hợp quy luật

Đọc tiếp »

PHƯƠNG THẢO – SƠN HOÀNG

Trong những năm gần đây, lượng dự trự ngoại hối (DTNH) gia tăng đã đặt một áp lực đáng kể lên hoạt động của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các quốc gia, đòi hỏi họ phải có những thay đổi trong cách thức quản lý lượng DTNH này bởi chúng có tác động quá lớn đến các thị trường tài chính. Nhìn lại hơn một thập kỷ qua, các nghiệp vụ quản lý DTNH đã có những tiến triển vượt bậc. Tuy vậy, cũng phải nhìn nhận rằng trong khi một số khía cạnh của quá trình phát triển này được quan tâm, chú ý thì không ít các mặt khác lại thiếu sự lưu tâm. Điều này đã tác động không nhỏ đến tính toàn diện của nghiệp vụ quản lý DTNH.

Bài viết này nhằm mục đích: Một là, cung cấp một cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển đến nay của nghiệp vụ quản lý DTNH tại các NHTW; Hai là, phát hiện ra các yếu tố đứng đằng sau quá trình này; và Ba là nêu bật những thách thức trong tương lai.

I. Xu hướng

Khoảng thời gian 1 thập niên qua đã cho thấy ít nhất 4 xu hướng chủ đạo trong quá trình phát triển các nghiệp vụ quản lý DTNH: Một là tập trung vào khả năng sinh lời; Hai là áp dụng mô hình cấu trúc trong việc ra quyết định, song hành với việc tăng cường quản trị nội bộ; Ba là tập trung vào quản lý rủi ro; và Bốn là mở rộng tính công khai, minh bạch.

Đọc tiếp »

Theo Nghị quyết 12/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2009, Chính phủ đã đề ra một số biện pháp bổ sung để tiếp tục tập trung thực hiện 5 nhóm giải pháp trọng tâm ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì và khôi phục lại đà tăng trưởng, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động ngăn ngừa lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Xây dựng cơ chế thu mua nông phẩm, kích cầu tiêu dùng trong nước

Đối với nhóm giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, các Bộ, ngành, địa phương cần tập trung cToàn cảnh phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2009 diễn ra từ 30/3 - 1/4/2009 hỉ đạo quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh sản xuất, không để xảy ra dịch bệnh tràn lan, đặc biệt chú ý giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, không để diễn ra tình trạng được mùa lại mất giá.

Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ trong cuối tháng 4/2009 chính sách, cơ chế thu mua đối với các sản phẩm: lúa gạo, cà phê, chè, cao su, điều hạt, cá nuôi, tôm nuôi, bảo đảm tiêu thụ hết sản phẩm hàng hóa, người sản xuất có lãi hợp lý; đồng thời xây dựng chính sách, cơ chế hỗ trợ cho nông dân mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và tiêu dùng.

Để đẩy mạnh triển khai giải pháp quan trọng là kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bên cạnh việc tiếp tục rà soát, tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, nhất là thủ tục đấu thầu, thuế, giải phóng mặt bằng,… Chính phủ yêu cầu tập trung giải ngân nhanh các công trình, dự án đầu tư từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, FDI và các nguồn vốn dân doanh, đặc biệt chú trọng giải ngân đối với các công trình, dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2009
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 319 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements