You are currently browsing the daily archive for 06/04/2009.

Trịnh Trọng Nghĩa

(theo Tài chính – Nga, số 3/2007)

Năm 2005 Nga sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật cầm cố bất động sản và các luật hữu quan (như Luật ruộng đất, nhà ở, công chứng và Luật tố tụng dân sự, v.v…) cho phù hợp với tình hình mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hoá các nền kinh tế để Nga gia nhập WTO.

Theo Luật cầm cố nói trên, thì những bất động sản sau đây, kể cả công trình xây dựng dở dang, đều có thể dùng làm tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng (xin gọi là tín dụng thế chấp bất động sản tài sản)

1. Ruộng đất, kể cả hồ, ao, trừ ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu công cộng;

2. Công ty, doanh nghiệp, kể cả văn phòng, nhà xưởng, công trình, vật kiến trúc và thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

3. Nhà ở, kể cả các tiện nghi và vật dụng gắn liền với nhà ở phục vụ sinh hoạt hàng ngày;

4. Nhà nghỉ mát, biệt thự, ga ra ôtô và các công trình, vật kiến trúc phục vụ nghỉ mát;

5. Máy bay, tàu thuỷ, kể cả tàu thuyền phà sông biển và các công trình phục vụ ngành hàng không và tàu thuỷ.

Theo luật cầm cố hiện hành, thì người mang tài sản đi thế chấp để vay tiền ngân hàng gọi là người thế chấp hay con nợ; còn người nhận tài sản cầm cố gọi là người nhận thế chấp hay chủ nợ. Người không tham gia vay nợ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (cầm cố) cũng có thể là người thế chấp.

Nếu trong hợp đồng thế chấp bất động sản (nhà ở) không nói gì khác, thì những vật dụng gắn liền với ngôi nhà, phục vụ sinh hoạt hàng ngày ở đây cũng được coi là tài sản thế chấp thuộc bất động sản này. Nếu nhà ở đem thế chấp được xây dựng hay mua sắm bằng tín dụng thế chấp, thì chủ nợ chỉ có quyền cầm cố ngôi nhà này, sau khi nó được cơ quan công chứng hay trước bạ nhà nước công nhận nó thuộc quyền sở hữu của con nợ (của người vay tiền vay nhà). Chủ nợ có quyền yêu cầu con nợ hoàn trả tiền thế chấp sau khi tài sản thế chấp hết hạn cầm cố.

Mục tiêu chính của bảo hiểm rủi ro tín dụng (tài sản) thế chấp là nhằm ngăn ngừa khả năng xác nhận (trước bạ, công chứng) không hợp pháp quyền sở hữu, sử dụng tài sản thế chấp để giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng (chủ nợ) nhận tài sản cầm cố, cung cấp tín dụng thế chấp. Đọc tiếp »

Advertisements

DIỆU THUÝ (Theo LOMA Resource)

Trong bối cảnh ngành bảo hiểm đang đứng trước những đặc điểm và những thách thức mới, Stephen Hall phóng viên thuộc tạp chí LOMA Resource đã có cuộc trao đổi với lãnh đạo các doanh nghiệp bảo hiểm tại Mỹ để tìm hiểu những suy nghĩ của họ về tương lai của ngành trong 10 năm tới.

Vào năm 2018, ngành bảo hiểm và các dịch vụ tài chính hiển nhiên sẽ thay đổi rất nhiều so với hiện nay. Nhưng đâu sẽ là những thay đổi đáng chú ý? Các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những nhiệm vụ và thách thức gì và làm cách nào để có thể vượt qua được những thách thức đó một cách thành công? Câu hỏi LOMA Resource đặt ra với các nhà lãnh đạo là: “Bạn nghĩ ngành bảo hiểm trong 10 năm tới sẽ ra sao? Về mặt cơ cấu, sản phẩm và khách hàng có khác biệt gì đáng chú ý so với hiện nay không? Vui lòng giải thích”. Tóm lược những dự báo mà các nhà lãnh đạo đề cập tới có những nội dung chính sau:

– Quá trình củng cố, hợp nhất chắc chắn sẽ tiếp tục diễn ra.

– Thế hệ sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số những năm 1946-1964 – thế hệ Baby Boomer – tạm dịch là thế hệ bùng nổ dân số – khi rời khỏi lực lượng lao động sẽ làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm dịch vụ tài chính như lập kế hoạch thừa kế di sản, bảo vệ tài sản, và tích lũy thu nhập.

– Ngành bảo hiểm trong tương lai cần phải có đủ khả năng tiếp cận và đáp ứng được nhu cầu của thị trường có quy mô dân số lớn hơn và đa dạng hơn.

– Hệ thống các kênh phân phối sản phẩm sẽ phát triển; số lượng các đại lý bảo hiểm giảm nhưng lượng giao dịch qua mạng và giao dịch trực tuyến sẽ tăng.

– Các sản phẩm bảo hiểm cần phải được đơn giản hóa và trọn gói theo một phương thức nào đó thuận tiện hơn cho khách hàng.

– Sự sẵn có của thông tin trên mạng internet đồng nghĩa với việc khách hàng sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều hơn thông tin về bảo hiểm và có đánh giá tốt hơn về những sản phẩm và dịch vụ họ mua.

Đọc tiếp »

HỒ QUỐC TUẤN – Nghiên cứu sinh tại ĐH Manchester, Anh

Sau những quả bong bóng giá cả trên thị trường tài chính, nhà đất và hàng hóa, trên thế giới đang hình thành một nguy cơ mới: những quả bong bóng ngân sách.
Những quả bong bóng này được hình thành với mục tiêu tiếp “sức sống mới” cho những nền kinh tế đang xì hơi, nhưng điều này cũng có thể dẫn đến những trở ngại rất lớn cho tăng trưởng bền vững nhiều năm sau.
Chi tiêu quá nhiều, vay nợ quá nhiều
Nhìn vào bảng dự kiến thâm hụt ngân sách 2009 mà tờ Economist đưa ra, dễ thấy đa số các quốc gia đều được dự đoán sẽ lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách khá lớn: rất nhiều nước đều có mức thâm hụt ngân sách so với GDP trên 5%, trong đó có những nước “cá biệt” như Mỹ và Anh được dự đoán có mức thâm hụt trên 10% GDP.

Đọc tiếp »

ThS. HÀ THỊ THANH BÌNH -  Đại học Luật TP HCM

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được gần hai năm (1). Trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này và trong thời gian kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước theo hướng làm cho pháp luật quốc nội của mình tương thích với các quy định của WTO cũng như để thực hiện những cam kết khi gia nhập tổ chức này. Tuy nhiên đến nay, quá trình đó vẫn chưa hoàn tất. Việc tiếp tục chuyển hóa các cam kết với WTO thành các quy định pháp luật nội địa là một yêu cầu khách quan không chỉ nhằm mục đích thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế mà còn giúp khai thác và hiện thực hóa các quyền lợi thành viên của tNội luật hóa các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụổ chức này. Bài viết trao đổi một số quan điểm liên quan tới yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.

1. Cơ sở pháp lý và thực tiễn đặt ra yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO nói chung và cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng

a) Cơ sở pháp lý

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71/2006/QHXI phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam (Nghị quyết 71/2006/QHXI). Nghị quyết này đã quy định nguyên tắc áp dụng các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, theo đó (i) nếu các cam kết trong các văn kiện gia nhập WTO đã đủ rõ, đủ chi tiết thì áp dụng trực tiếp các cam kết đó (bao gồm các cam kết được liệt kê trong phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết 71/2006/QHXI và các cam kết khác trên cơ sở rà soát của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2)); (ii) thực hiện việc rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam để đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO. Ngoài ra, Nghị quyết 71/2006/QHXI khẳng định nguyên tắc giải quyết xung đột giữa quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật nội địa như sau: trong trường hợp pháp luật Việt Nam không phù hợp với Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm thì sẽ áp dụng các quy định của Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm. Như vậy, Nghị quyết 71/2006/QHXI đã tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 6 Luật Điều ước quốc tế số 41/2005/QHXI ngày 14/6/2005 (Luật Điều ước quốc tế 2005). Theo đó, dù là các quy định của Điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết thì vẫn cần một văn bản thể hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc áp dụng trực tiếp các quy định đó sau khi thực hiện việc rà soát; các trường hợp còn lại (đối với các cam kết chưa đủ rõ, chưa đủ chi tiết hoặc pháp luật nội địa chưa phù hợp) thì cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và ban hành mới các văn bản pháp luật trong nước để thực hiện các Điều ước quốc tế (3). Như vậy, để thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói chung và các cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng, phải thực hiện việc nội luật hóa các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này, hay nói cách khác là phải chuyển hóa các cam kết quốc tế thành pháp luật nội địa.

Đọc tiếp »

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được “hóa giá” với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng “nghe rất là buồn”.

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

“Rất là buồn”, nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

BÌNH LUẬN SỐ 8-2013

Chương trình Giọng hát Việt Nhí đã tạo ra những phút thư giãn thú vị đối với công chúng bình dân thời gian vừa qua.

Nhưng chuyện bé Quang Anh lên ngôi quán quân lại gây ra sóng gió dư luận.

Vì có những văn bản chỉ đạo từ quê nhà dành cho những người đồng hương với bé với mục đích tăng số lượng bình chọn qua tin nhắn.

Điều thú vị là, sự chỉ đạo này đang bị chỉ trích, trong khi đó, ở cấp trung ương, việc chỉ đạo tổ chức rầm rộ chương trình bình chọn kỳ quan “New 7 Wonders” qua mạng internet của một tổ chức vô danh tiểu tốt thì lại chẳng có ai cho rằng là đáng xúc phạm với Vịnh Hạ Long cả.

Các bé thi hát, cho dù đã bị loại hay chiến thắng, thì đều đáng khuyến khích. Không có ai thua trong cuộc thi này. Nhưng những người lớn rảnh rỗi lại chia thành bè phái để ủng hộ cho bé này hoặc bé kia và có vẻ quyết ăn thua đủ.

Sự thật là: trong khi trẻ con đang cố gồng mình để tham gia một sân chơi người lớn, mua vui cho người lớn, thì những người lớn lại giống như trẻ con, mà chẳng phải cố gắng gì cả.

BÌNH LUẬN SỐ 7-2013

Là một người nghiên cứu và giảng dạy luật pháp, tôi thường nói đùa với các sinh viên là có hai nơi mà pháp luật dường như bất lực, đó là trong rừng sâu (nơi chỉ hiện diện luật…rừng) và trong phòng ngủ – nơi chỉ có tình yêu. Nhưng e là tôi phải thú nhận rằng mình đã lầm.

Hãy đọc vài đoạn sau đây của Dự thảo “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; và phòng, chống bạo lực gia đình” thì sẽ rõ:

“- Phạt tiền từ trên 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi như bắt thành viên gia đình nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ; hoặc thường xuyên dọa nạt thành viên gia đình bằng các hình ảnh, con vật, đồ vật mà người đó hoảng sợ, ảnh hưởng đến tinh thần.
– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chửi bới, chì chiết thành viên gia đình.
– Phạt tiền từ trên 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi bạo lực trong sinh hoạt tình dục đối với các cặp vợ chồng hay buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh sinh hoạt tình dục
– Buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ vào ban đêm hoặc lúc trời mưa, bão, gió rét có mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
– Kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của thành viên gia đình hoặc nguồn tài chính chung của gia đình nhằm tạo cho thành viên gia đình sự phụ thuộc về tài chính bị coi là hành vi bạo lực về kinh tế với mức phạt từ 500.000 tới 1.000.000 đồng.”

Cơ quan soạn thảo ra cái nội dung này dường như không hiểu: đối với gia đình, có những cái vượt qua khỏi chuyện tiền bạc, và phạt tiền, do đó, sẽ chẳng giải quyết được vấn đề. Một ông bố để con ăn đói, mặc rách vì nghèo thì liệu có tiền để nộp phạt hay không?

Tôi không phản đối việc cần phải quy định để phòng, chống bạo lực gia đình. Nhưng quy định đến mức này thì thật không thể không cười mỉm được. Có người nói đùa, quy định này là bảo vệ đàn ông, vì có say rượu về thì vợ vẫn phải mở cửa cho vào nhà, và chắc chắn là vợ sẽ không dám lột hết tiền lương trong ví, ha ha!

———————————————————————–

BÌNH LUẬN SỐ 5-2013

Thuật ngữ “đấu thầu vàng” gây ra nhiều ngạc nhiên. Đấu thầu, về bản chất là việc tổ chức mua bán theo đó có một người mua và nhiều người bán, còn nếu có nhiều người mua và một người bán thì gọi là đấu giá. Đầu thầu, do đó, có lợi cho người mua, còn đấu giá sẽ có lợi cho người bán. Theo Quyết định số 563/QĐ-NHNN ngày 18/3/2013 thì NHNN tổ chức đấu thầu cả khi mua và khi bán vàng miếng (!)

Những ngày vừa qua, NHNN là người bán vàng, liên tục, chứ không mua, vậy tại sao gọi là đấu thầu vàng? Cũng theo quy trình tại Quyết định số 563/QĐ-NHNN thì những DN chào giá mua cao sẽ trúng thầu khi mua, chào giá bán thấp sẽ trúng thầu khi bán.

E là, người được lợi không phải là người dân, và nỗ lực kéo giá vàng về với giá thế giới cũng bay lơ lửng trên trời giống như chính giá vàng

————————

1. Với việc Chính phủ cho phép miễn thuế Thu nhập cá nhân 6 tháng đầu năm 2009, tình trạng chuyển dịch các khoản thu nhập đáng lẽ được chi trả vào cuối năm thành các khoản chi trả trước ngày 1.7 để tránh thuế là khá phổ biến.

Tuy nhiên, nếu Ban soạn thảo QĐ 30 hiểu rằng, kỳ tính thuế thu nhập cá nhân là 1 năm, thì chắc đã không có quy định như vậy. Tất nhiên, cuối cùng thì Bộ Tài chính cũng đã có hướng dẫn đúng: giảm 50% thuế TNCN năm 2009, không phụ thuộc thời điểm chi trả. (Đăng đầu tháng 10/09)

2. Trước thềm kỳ họp Quốc hội cuối năm 2009 này, các diễn đàn chính sách công đang dấy lên cuộc tranh luận xem nên để mức bội chi ngân sách ở 6% hay cao hơn (có lẽ mức 5% như trước đây là điều không thể hay không nên?). Các ý kiến đưa ra đều có những luận giải có vẻ khá xác đáng cả.

Dường như chúng ta đang quá tự tin rằng chúng ta có thể muốn vay nợ bao nhiêu cũng được! Có lẽ, đừng nên tranh luận về việc giới hạn vay là bao nhiêu mà nên tập trung vào việc suy nghĩ xem chúng ta có thể vay được bao nhiêu và liệu chúng ta có thể sử dụng khoản vay đó hiệu quả hay không? Có câu trả lời cho hai vấn đề trên thì đương nhiên sẽ có tỷ lệ bội chi hợp lý. Vấn đề dường như có vẻ bị đảo ngược! (Đăng tháng 10/09)

3. Các báo cáo của NHNN trong suốt giai đoạn nửa đầu năm 2009 về việc thực hiện chính sách kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất đều tập trung báo cáo về con số dư nợ ngày càng khổng lồ. Hầu như chẳng có những phân tích về tình hình sử dụng vốn vay cũng như đánh giá rủi ro tín dụng.

Kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất là một cách để nhà nước chia sẻ chi phí với doanh nghiệp. Cho nên, hiệu quả của việc kích cầu này phải được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của nguồn vốn kích cầu, chứ không phải là đã kích cầu bằng bao nhiêu tiền.

Hãy tưởng tượng hình ảnh một người nông dân buổi sáng, mừng rỡ đếm số gà được thả ra khỏi chuồng, mà không thèm quan tâm xem đến tối, có bao nhiêu con gà trở về. Sự mừng vui dường như quá sớm thì phải. (Đăng ngày 10/10/09)

4. Dự thảo luật sửa đổi Luật thuế GTGT và thuế TNDN đang được Quốc hội xem xét. Nội dung sửa đổi chủ yếu liên quan đến việc giảm thuế cho DN cung cấp nhà ở xã hội (cho sinh viên, người nghèo, người có thu nhập thấp) với mức giảm bình quân từng sắc thuế là 50%.

Những ai đã từng quan tâm đến kinh tế học đều hiểu rằng, việc giảm thuế đối với những hàng hóa có cầu co giãn thấp hoặc không co giãn thường không có lợi gì cho người mua mà chủ yếu có lợi cho người bán. Ví dụ: lương thực, năng lượng, nhà ở, các dịch vụ  giáo dục và y tế. Vì vậy, cần có một chính sách trực tiếp hơn để tiền hỗ trợ đến tay người cần hỗ trợ, đồng thời phải đảm bảo kiểm soát được. Quốc hội lần này đã tỏ ra khá sáng suốt và bình tĩnh để hiểu rằng, ngay trong tình cảnh kinh tế suy giảm hiện nay, việc sửa đổi hai luật thuế trên không giúp ích gì. (Đăng ngày 28/10/09)

5. Tuần thứ 2 của tháng 11-2009, xã hội đã chứng kiến cơn hỗn loạn của giá vàng trong nước. Giới đầu cơ đã tỏ ra nghiệp dư khi đồng tâm hiệp lực đẩy giá vàng vượt xa giá vàng thế giới với niềm tin mù quáng là ngày mai, nó sẽ tăng hơn so với hôm nay.

Nói chung, từ lâu, vàng không còn giữ một vị trí quan trọng trong rổ hàng hóa để tính CPI. Cái gì hiếm thì quý, chứ  chưa chắc vì quý mà hiếm. Trong khi đó, cơ quan quản lý về vàng là NHNN tỏ ra chậm chạp trong việc đưa ra tuyên bố và giải pháp hữu hiệu. Có lẽ, từ người dân đến cơ quan quản lý nhà nước còn cần nhiều bài học trong nền kinh tế thị trường. Chỉ có điều, người dân phải mất tiền, nhiều tiền cho những bài học như vậy. (Đăng ngày 3/11/09)

6. Trong thời gian qua,NHNN đã thất bại trong việc đề nghị thay đổi quy định 476 BLDS về giới hạn lãi suất cho vay, nên dự thảo Luật NHNN lần này đã “lờ” đi, không quy định về lãi suất cơ bản. Tất nhiên việc này bị phát hiện rất nhanh. Có vị đại biểu quốc hội cho biết, NHNN đã từng đề nghị 4 lần lên UB Tư pháp Quốc hội, nghĩa là NHNN có vẻ là hết sức kiên nhẫn. Vị đại biểu này còn cho rằng, 12 năm qua (với dấu mốc là năm 1997), chúng ta đã sử dụng lãi suất cơ bản rất hiệu quả.

Thực ra, chúng ta chỉ có lãi suất cơ bản (thực ra là gần đúng với từ này thôi) trong giai đoạn từ 2002 đến trước khi có quyết định khống chế lãi suất cho vay vào đầu năm 2008. Vị đại biểu kia dường như không hiểu nhiều về khái niệm lãi suất cơ bản. Và với việc khống chế như hiện nay, những người gửi tiền, ngân hàng là những chủ thể bị thiệt nhiều nhất. Ngân hàng hiện nay, xem ra, có vẻ bị đối xử như đối với những kẻ chuyên cho vay nặng lãi. (Đăng ngày 10/11/09)

7. Hiện nay, dự thảo lần 1 của Luật thuế môi trường đang được lấy ý kiến rộng rãi. Thật mừng là đã đến lúc chúng ta nhận ra rằng, không thể và không nên phát triển kinh tế bằng mọi giá.

Tuy nhiên, dự thảo Luật thuế môi trường tỏ ra sơ sài và được chấp bút một cách cẩu thả về câu chữ. Dường như Ban soạn thảo không có sự phân biệt rõ ràng những hàng hóa nào gây hại cho môi trường và gây hại cho con người. Bên cạnh đó, dự thảo cũng không hề đề cập đến việc đánh thuế đối với chất thải và nguồn gây ô nhiễm mà chỉ tập trung vào một số loại hàng hóa có khả năng gây ô nhiễm. Điều đó cho thấy sự thiếu tự tin khi thực hiện chức năng quản lý môi trường của nhà nước. Cứ như dự thảo này, thì những doanh nghiệp như VEDAN chẳng mất một xu tiền thuế môi trường nào cả. (Đăng ngày 19/11/09)

8. Có vẻ như hiện nay, mô hình phát triển của Singapore đang được các nhà lãnh đạo từ cao cấp đến trung cấp của Việt Nam ngưỡng mộ và học hỏi. Đúng là đáng học hỏi thật, vì họ có chiến lược phát triển rõ ràng, đội ngũ công chức trong sạch, và người dân chấp pháp nghiêm cẩn.

Nhưng chúng ta cũng cần hiểu rằng, Singapore là một quốc đảo nhỏ, với quy mô dân số ít và tương đối đồng đều về các giá trị lịch sử. Rõ ràng, so sánh các tiêu chí đó, thì việc học tập mô hình của họ cũng cần phải tính đến những đặc thù của Việt Nam chúng ta. Để chắc chắn rằng, chúng ta không mất nhiều học phí và thời gian cho những bài học không sát thực tế. Chúng ta cần hiểu cách Singapore phát triển, chứ không cần và không thể phát triển để trở thành một Singapore. (Đăng ngày 28/11/09 )

9. Những năm gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút nhiều sự  quan tâm từ  dư  luận. Từ việc Sony rút ra khỏi Việt Nam, các  liên danh sản xuất và khống chế thị trường, đến việc Vedan xả thải làm hỏng sông Thị Vải và phải bồi thường hàng trăm tỷ đồng, đã cho thấy lý do các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam chẳng phải vì đây là môi trường đầu tư hấp dẫn, như  chính họ nói ra và chúng ta thường tán tụng lẫn nhau.

Đã đến lúc chúng ta cần nhận ra rằng, nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam vì lợi ích của họ đầu tiên, chứ  không phải vì lợi ích của chúng ta. Có lẽ, nhiều nguyên nhân hấp dẫn họ đến Việt Nam nằm ngoài những nỗ lực chính sách của nhà nước Việt Nam. Đó là những bài học mà chúng ta phải trả giá khá nhiều mới học được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. (Đăng ngày 3/12/2009)

10. Trong những năm qua, không ít lần người dân cảm thấy bất ngờ khi cơ quan nhà nước tuyên bố một đằng, nhưng ngay sau đó lại quyết định một nẻo. Ví dụ: tăng hay không tăng giá xăng, giữ hay không giữ tỷ giá ngoại tệ… Có lẽ, những cơ quan này muốn trấn an dư luận, để đảm bảo không có kẻ trục lợi bởi những tin đồn, mà hầu hết đều trở thành sự thật.

Nhưng rõ ràng, với cách làm như vậy, thì niềm tin của công chúng vào cơ quan nhà nước sẽ càng giảm sút. Về lâu dài, những tuyên bố như vậy sẽ chẳng có tác dụng gì, hoặc nguy hiểm hơn là phản tác dụng. Đường đi dẫn đến minh bạch chính sách xem ra còn rất dài. (Đăng ngày 7/12/2009)

11. Vụ ầm ĩ về việc lãnh đạo Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được hưởng mức lương cao ngất trong khi SCIC làm ăn thua lỗ triền miên với cung cách quản lý quan liêu và cẩu thả đã cho thấy nhiều vấn đề, cả về năng lực và đạo đức, nếu so sánh với nhiều CEO nước ngoài làm việc với mức lương 1 USD/năm trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế vừa qua.

Mục tiêu của nhà nước khi thành lập ra SCIC là nhằm tách chức năng kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan chủ quản. Nhưng ngạc nhiên thay, nhiều vị đang đương chức là Bộ trưởng, Thứ trưởng lại đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của SCIC với mức thu nhập, chắc hẳn gấp nhiều lần mức lương “danh nghĩa” chính thức của hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng. Vậy, đâu là sự tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý? Một ngày chỉ có 24 giờ, xem ra, làm Bộ trưởng hoặc làm Thành viên HĐQT của SCIC không hề khó chút nào!!! (Đăng ngày 16/12/2009)

12. Câu chuyện về việc Liên hiệp đường sắt VN, dưới danh nghĩa Bộ GTVT đệ trình Quốc hội xem xét dự án đường sắt cao tốc với tổng kinh phí (ước tính – vì chưa có dự án cụ thể) trên 50 tỷ đô la đã dấy lên cuộc tranh luận, từ giới chính sách, nhà quản lý đến hạng thường dân uống trà đá vỉa hè.

Ai cũng biết đây là một số tiền quá lớn, cho một dự án quá lớn, nên sự cẩn trọng là cần thiết, giống như nhà nghèo muốn mua quần áo mới vậy.

Quần áo mới, suy cho cùng cũng chỉ dành cho vài ngày đi chơi, mà ích lợi chẳng qua là khoe mẽ, trong khi miếng ăn còn lúc đói lúc no. Ngành đường sắt nên tập trung cải tạo hệ thống đường hiện có, làm từng đoạn một, cẩn thận và chỉn chu, để tốc độ tàu hỏa đạt 120 km/h, đã là tốt lắm rồi. Vì nếu tàu cao tốc nhanh hơn, nhưng đắt hơn, thì phân khúc thị trường này sẽ dành cho hàng không, chứ không phải đường sắt.

Quốc hội chắc sẽ tỏ ra sáng suốt và tiết kiệm, để dừng cái cuộc phiêu lưu kế hoạch này lại, để không tiếp sức cho câu chuyện kế hoạch đang làm đảo lộn nhiều mặt xã hội, từ nhà đất, chứng khoán, đến an toàn giao thông…

Bộ GTVT nói chỉ mong QH cho cái chủ trương, nhưng nghị quyết của QH đâu phải trò đùa, khác nào thượng phương bảo kiếm, tiền trảm hậu tấu, sau này nếu có ai trái ý thì họ chắc sẽ đem QH ra dọa, nói là đã có chủ trương rồi, thì số tiền lớn ấy, người dân sẽ phải trả qua thuế rất nhiều. Một lần nữa, chuyện công hay tư chắc cần phải làm rõ ở đây! (Tháng 6/2010)

13. Vinashin phá sản giống như sự sụp đổ của một tượng đài hùng vỹ trong mô hình thành công của các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi.

Từ SCIC đến Vinashin là kết cục tất yếu của sự phồng quá cỡ của quả bong bóng, được hà hơi bằng uy tín nhân danh nhà nước và những quyết định thiếu “tầm” của người điều hành.

Đầu tư  sai lầm, dàn trải, ảo tưởng về sức mạnh quy mô và khả năng huy động vốn quá dễ dàng qua nhiều kênh là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến kết cục này. Nhưng công bằng mà nói, cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua cũng có vai trò đáng kể khi Vinashin không còn nhiều đơn đặt hàng như trước đây

Việc Vinashin sụp đổ không còn là câu chuyện của riêng nó nữa, mà là đời sống của hàng vạn gia đình công nhân, những người trực tiếp chịu hậu quả nặng nề từ quá trình tái cơ cấu như mất việc làm hoặc suy giảm thu nhập.

Với hơn 80 ngàn tỷ đổng tiền vay nợ, mà không ít trong số đó là từ các ngân hàng, Vinashin chắc chắn sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm cho hệ thống ngân hàng gặp khó khăn trong thời gian tới. (Đăng tháng 7/2010)

14. Câu chuyện Hà Nội dựng 5 cổng chào đã đi đến hồi kết. Những người ăn dè tiêu sẻn cảm thấy rất vui, và chắc những cổ đông của một số công ty sẵn sàng “tặng không” mấy cổng chào cho Hà Nội chắc vui hơn.

Chuyện chẳng có gì nếu không nhìn thấy cảnh đồng bào miền Trung đang khốn khó, chạy ăn từng bữa, kiếm nước từng giọt trong cơn hạn hán lịch sử.

Chuyện chẳng có gì nếu không thấy cái dự thảo Luật Thủ đô, mặc cho giới chuyên gia phê bình gay gắt, giới bình dân bình phẩm chua chát, vẫn dùi gắng đưa ra cho Hà Nội những đặc quyền, đặc lợi.

Thủ đô không phải của riêng Hà Nội, mà Hà Nội là thủ đô của cả nước. Sự thật hiển nhiên này dường như có quá nhiều vị nọ, vị kia không hiểu.

Thủ đô như là người anh cả trong gia đình. Đâu rồi câu thành ngữ “làm anh ăn thèm vác nặng”? Nếu Hà Nội nhiều tiền, sao không giúp đỡ miền Trung bây giờ, lại phải đi dựng cổng chào? Hãy là Thủ đô theo đúng nghĩa, để các em bé miền Trung vẫn giữ mãi ước mơ ra thăm Hà Nội. (Đăng tháng 8/2010)

———————————————————————————————————————————————————

BÌNH LUẬN SỐ 1-2013

Ông Hồ Trí Hùng – Phó Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ, Bộ VHTT-DL, người được cho là tác giả của các quy định trong Nghị định 105/2012/ NĐ-CP về tổ chức lễ tang cán bộ, công chức, viên chức đã có những phát biểu về việc tại sao lại có quy định cấm lắp cửa kính trên quan tài, hay lễ tang chỉ được sử dụng 7 vòng hoa…

Dư luận đã bình…loạn nhiều rồi, luattaichinh không có ý định thêm…dầu vào lửa.
Xem thêm trên Báo Tiền phong online: http://www.tienphong.vn/xa-hoi/609990/Tac-gia-quy-dinh-cam-dung-cua-kinh-quan-tai-len-tieng.html

Xuyên suốt những câu trả lời, ông Hùng luôn nhắc đi nhắc lại là Nghị định 105 là để tuyên truyền, vận động, nhắc nhở người dân. Riêng ý tưởng này đã làm kinh ngạc những ai học luật một cách bài bản.

Không hiểu ông Hùng hiểu về khoa học pháp lý đến đâu, nhưng với những sinh viên năm thứ nhất ngành luật đã được học rằng: cho dù quy phạm pháp luật là do khế ước của toàn xã hội hay do giai cấp thống trị đặt ra chăng nữa, thì nó xuất hiện là để công dân nghiêm chỉnh thực hiện, và nếu không tuân theo thì phải chịu chế tài. Ai cũng hiểu (nên dư luận mới bức xúc vì buộc phải thực hiện), chỉ…ông Hùng không hiểu.

Trách nhiệm của luật pháp không phải để tuyên truyền cho những người thực thi, mà chính những người thực thi phải tuyên truyền luật pháp. (Đăng tháng 2/2013)

LUẬT SƯ TRƯƠNG THANH ĐỨC

Trong một xã hội văn minh, các doanh nghiệp không được làm những gì mà pháp luật ngăn cấm và được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm đoán. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng hiện nay, dường như khó làm được điều đơn giản ấy?

Luật cho phép mà vẫn không được làm

Điều 57, Hiến pháp và Điều 7, Luật Doanh nghiệp khẳng định, công dân và doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nhưng trong hoạt động tín dụng ngân hàng, có những điều pháp luật đã quy định rõ là được làm, mà các ngân hàng lại vẫn không dám làm.

Đó là việc thu các loại phí liên quan đến hoạt động cho vay như phí cấp hạn mức tín dụng, phí thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay, phí gia hạn nợ… Các khoản phí này là bình thường theo thông lệ quốc tế và cũng rất hợp lý ở chỗ, ngân hàng sẽ thu thêm phí khác nhau đối với một số khoản vay, trong trường hợp phải bỏ ra nhiều thời gian và chi phí hơn, thay vì nâng lãi suất đồng loạt đối với khách hàng vay vốn. Điều 54, Luật Các tổ chức tín dụng có nhắc đến một trong những quyền của tổ chức tín dụng (TCTD) trong cho vay là “được miễn, giảm lãi suất, phí”.

Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành cũng nêu rõ việc thu loại phí trả nợ trước hạn. Các loại phí khác tuy không được đề cập đến, nhưng tuyệt nhiên không có văn bản pháp luật nào ngăn cấm hay hạn chế thu phí tín dụng, kể cả các nghị định, thông tư về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngân hàng.

Đọc tiếp »

PGS,TS. BÙI VĂN DƯƠNG – ThS. VÕ MINH HÙNG

Khi sức mua của đông tiền bị giảm sút đáng kể do giá cả tăng cao thì kế toán viên không thể tiếp tục cho rằng giá trị của đồng tiền không thay đổi. Và do đó, không thể cộng chung các khoản tiền đã được ghi nhận ở những thời điểm khác nhau. Một trong những giả thiết căn bản được áp dụng trong lĩnh vực kế toán là giá trị của đơn vị tiền tệ kế toán không thay đổi qua các năm. Giả thiết này còn được gọi là nguyên tắc “đồng tiền cố định”. Theo nguyên tắc này, khi lập bảng cân đối kế toán, kế toán viên sẽ cộng số dư của các Tài khoản “Tài sản” với nhau mặc dù những giá trị này đã được ghi nhận ở những thời điểm khác nhau. Một đồng tiền chi mua tài sản cố định ở năm 1998 được coi là có cùng giá trị với một đồng tiền trong năm 2008. Vấn đề đặt ra là giá trị của hai đồng tiền đó có ngang nhau hay không? Theo nguyên tắc “đồng tiền cố định” thì có, nhưng thực tế thì không cho là như vậy.

Tuy nhiên, cũng theo nguyên tắc trên, khi giá trị của đồng tiền đã thay đổi (do lạm phát cao) thì kế toán viên không thể tiếp tục cho rằng giá trị của đồng tiền không thay đổi. Và do đó, không thể cộng chung các khoản tiền đã được ghi nhận ở những thời điểm khác nhau như năm 1998, năm 2000, năm 2008. Và nếu giá trị của đồng tiền đã thay đổi trong thời gian 11 năm này thì số tổng cộng mà kế toán tính ra sẽ có ý nghĩa tương tự như khi ta cộng cung số đu đủ, măng cụt, xòai hay dứa với nhau. Vậy, trong điều kiện nền kinh tế lạm phát cao, kế toán viên sẽ lập báo cáo tài chính (BCTC) như thế nào nhằm đảm bảo ý nghĩa của thông tin?

Giải pháp duy nhất là phải chuyển tất cả các khoản tiền đã ghi nhận ở các thời điểm khác nhau thành những số tiền ở cùng một thời điểm và do đó, cùng một sức mua có thể cộng chung lại. Tức là, trình bày các số tiền đã ghi nhanạ trong năm 1998 thành một số tiền có giá trị tương đương năm 2008. Tương tự vậy, tất cả các khoản tiền đã được ghi nhận ở những thời điểm khác cũng được đổi thành khoản tiền có giá trị tương đương trong năm 2008. BCTC năm 2008, sau khi chuyển đổi theo mức giá mới sẽ chỉ gồm những số tiền có sức mua gióng nhau (khác với BCTC thông thường). Thủ tục chuyển đổi nói trên rất phức tạp vì ba vấn đề chính sau đây: (1) Chuyển đổi các khoản tiền đã ghi nhận trong các tài khoản kế toán là đi ngược với nguyên tắc “Giá gốc” của kế toán; (2) Việc chuyển đổi các khoản tiền dựa trên cơ sở nào?; (3) Làm thế nào để thực hiện việc chuyển đổi?

Đọc tiếp »

TS. LÊ VĂN LIÊN – Học viên Tài chính

Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng được sử dụng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này hiện tại chủ yếu được xác định bằng phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trên cơ sở kế toán dồn tích. Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện của lý luận kế toán thì lợi nhuận còn có thể được xác định bằng cách so sánh giữa vốn chủ sở hữu cuối kỳ với vốn chủ sở hữu đầu kỳ.

Phương pháp xác định lợi nhuận trong kế toán

Theo lý luận kế toán, lợi nhuận có thể được xác định theo một trong hai phương pháp sau: phương pháp so sánh vốn chủ sở hữu và phương pháp so sánh doanh thu với chi phí.

Phương pháp so sánh vốn chủ sở hữu.

Theo phương pháp này, lợi nhuận một kỳ kinh doanh được xác định bằng cách so sánh giữa vốn chủ sở hữu cuối kỳ và cốn chủ sở hữu đầu kỳ. Công thức xác định lợi nhuận theo phương pháp này như sau: lợi nhuận = Vốn chủ sở hữu cuối kỳ – Vốn chủ sở hữu đầu kỳ (1).

Vốn chủ sở hữu được xác định bằng phần chênh lệch giữa tổng tài sản và nợ phải trả. Cuối kỳ, trên cơ sở kết quả của kiểm kê, đánh giá tổng giá trị của tài sản và nợ phải trả theo giá thị trường. Trong trường hợp vốn chủ sở hữu tăng lên hoặc giảm xuống do các nghiệp vụ không liên quan đến lợi nhuận trong kỳ thì cần phải loại trừ ra khỏi vốn chủ sở hữ42-15792866.jpgu cuối kỳ. Một số nghiệp vụ thuộc loại này như bổ sung vốn góp từ chủ sở hữu, rút vốn hoặc phân phối lợi nhuận cho chủ sở hữu…Trong những tình huống này, lợi nhuận được xác định theo công thức:

Lợi nhuận trong kỳ = Vốn chủ sở hữu cuối kỳ – Vốn chủ sở hữu đầu kỳ – Vốn chủ sở hữu trong kỳ tăng lên không do tăng lợi nhuận + Vốn chủ sở hữu trong kỳ giảm xuống không do phát sinh khoản lỗ (2)

Phương pháp này có những đặc điểm sau: Một là, toàn bộ tài sản, nợ phải trả được xác định trên cơ sở giá hợp lý, không căn cứ vào giá vốn thực tế; Hai là, lợi nhuận được xác định theo phương pháp này bao gồm cả lợi nhuận được thực hiện và lợi nhuận chưa được thực hiện của kế toán dồn tích; Ba là, phù hợp với quan điểm của các nhà kinh tế về việc xác định lợi nhuận.

Đọc tiếp »

HỒNG HÀ

“Khăng khăng theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng không thực tế sẽ làm méo mó quá trình hoạch định chính sách theo hướng kích thích kinh tế vĩ mô quá mức và xa rời việc bảo vệ những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội”, GS. Kenichi Ohno quả quyết.

>> Đã qua rồi một thời đổi mới
>> Cơ chế chất lượng cao để kinh tế VN cất cánh
>> Dự báo GDP và bài toán tăng trưởng
>> Đổi Mới II: Ý chí lãnh đạo và đồng thuận xã hội
>> DN Nhà nước: Muốn "chủ đạo" phải tạo áp lực cạnh tranh
>> Chuyển mô hình tăng trưởng và can thiệp khôn ngoan của Nhà nước

Những dự báo khác nhau về tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2009 vừa được các tổ chức quốc tế công bố lại khiến dư luận xôn xao quanh câu chuyện về những con số và chất lượng tăng trưởng.

Về phía Chính phủ dự kiến điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng năm nay xuống còn 5%, trong khi các chuyên gia khuyến cáo nên đặt ở mức 4 – 5% để rộng cửa điều hành.

Tuy nhiên, vấn đề đối với Việt Nam hiện nay, không phải là cần biết mức tăng trưởng năm nay được bao nhiêu, mà là đã đến lúc kiên quyết từ bỏ mô hình tăng trưởng rượt đuổi số lượng để chuyển sang rượt đuổi chất lượng.

Biểu hiện rõ nhất của mô hình rượt đuổi số lượng là tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tăng vốn (chiếm 57,5%), tăng trưởng số lượng lao động đang làm việc (chiếm 20%), cộng hai yếu tố số lượng lên đến 77,5%. Còn yếu tố chất lượng, gọi chung là năng suất các nhân tố tổng hợp (bao gồm hiệu quả đầu tư và năng suất lao động) chỉ đóng góp 22,5% vào tốc độ tăng trưởng chung.

Đã đến lúc, nếu không nâng cao được chất lượng tăng trưởng, thì ngay cả tăng trưởng với tốc độ (số lượng) như cũ cũng không thể duy trì được.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2009
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 302 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements