You are currently browsing the daily archive for 05/04/2009.

Phạm Đình Trọng
Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm

giao_thong_hn.jpgCó thể nói, với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (thay thế Nghị định 115/1997/NĐ-CP) và Bộ Tài chính ban hành Thông tư 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã đánh dấu sự hoàn thiện đáng kể về hệ thống khuôn khổ pháp lý đối với loại hình bảo hiểm này.

Sau hơn 10 năm được thực hiện theo Nghị định 115/1997/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành, chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đã có những đóng góp tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người tham gia giao thông, kịp thời ổn định cuộc sống và tình hình tài chính của chủ xe cơ giới, người bị tai nạn giao thông sau khi xảy ra tai nạn thông qua công tác trả tiền bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm từ các doanh nghiệp bảo hiểm.
Theo số liệu thống kê giai đoạn 2003-2007 cho thấy: (i) Số lượng xe cơ giới được bảo hiểm tăng dần qua các năm, cụ thể là số ô tô được bảo hiểm tăng bình quân 7,3%/năm; số xe máy được bảo hiểm tăng bình quân 15,2% năm; (ii) Doanh thu phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới tăng 22,9%/năm; (iii) Bồi thường bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới tăng bình quân 15%/năm. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp bảo hiểm đã giải quyết bồi thường trên 120 ngàn vụ tai nạn giao thông với số tiền bồi thường trên 1000 tỷ đồng.
Cùng với việc bồi thường bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm cho người bị tai nạn, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã trích trên 115 tỷ đồng để thực hiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, góp phần tích cực trong việc làm giảm tai nạn giao thông thời gian qua, cụ thể như: hỗ trợ xây dựng hành lang an toàn đường bộ, đường sắt tại một số địa phương; hỗ trợ xây dựng nhiều biển báo đề phòng tai nạn giao thông, phát hành áp phích hạn chế tốc độ nguy hiểm; hỗ trợ hội thi lái xe giỏi toàn quốc,…
Tuy nhiên, do số lượng xe cơ giới tăng lên nhanh chóng làm tăng số vụ tai nạn giao thông, mức độ thiệt hại về người và tài sản theo đó cũng tăng nên việc thực hiện Nghị định 115/1997/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phát sinh một số tồn tại cần phải khắc phục như:
Các hạn chế về mặt nội dung

Đọc tiếp »

Advertisements

Trần Đình Thiên

PGS, TS, Quyền Viện trưởng, Viện Kinh tế Việt Nam

Nhận diện cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính lần này có nhiều điểm khác biệt với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông á cách đây 10 năm.

Thứ nhất, nó bắt nguồn từ những nền kinh tế hùng mạnh nhất, phát triển nhất như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản. Còn cuộc khủng hoảng Đông á (1997 – 1998) bắt nguồn và lan rộng chủ yếu trong phạm vi những nền kinh tế phát triển trung bình mới nổi – như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Nga, …

Thứ hai, cuộc khủng hoảng này "đánh sập" cả những “gã khổng lồ”, thậm chí là “khổng lồ nhất”, những "đại gia" có tuổi đời già dặn hằng thế kỷ, trong lĩnh vực tài chính lẫn lĩnh vực phi tài chính; những tập đoàn được coi là có cấu trúc vững chắc và quản trị hoàn hảo.

Thứ ba, đây là cuộc khủng hoảng có sức lan tỏa nhanh và mạnh, theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các nền kinh tế thuộc nhóm phát triển nhất lần lượt rơi vào suy thoái – từ Mỹ lan sang EU, tràn tới Nhật Bản, rồi "hạ gục" Xin-ga-po. Điều đáng lưu ý rằng, đó là những nền kinh tế thường xuyên đứng ở thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng sức cạnh tranh tăng trưởng toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng đó từ khu vực tài chính tràn sang khu vực "thực", chuyển thành suy thoái kinh tế. Cả hai thứ cộng hưởng với nhau, "công phá" toàn diện hệ thống kinh tế toàn cầu.

Đọc tiếp »

VŨ VĂN HOẠ

Thực trạng chất lượng kiểm toán của KTNN

Điều 13 Luật KTNN quy định “KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, “Hoạt động kiểm toán nhà nước phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước”. Đứng trước những thách thức và các nhiệm vụ nặng nề như trên, đòi hỏi chất lượng kiểm toán ngày càng phải được nâng lên. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành kể từ khi Luật KTNN được thông qua, lãnh đạo KTNN đã ban hành hàng loạt các văn bản chỉ đạo nhằm không ngừng đưa hoạt động của ngành đi vào nề nếp, thông qua đó góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán (như: Quyết định số 556/QĐ-KTNN ngày 11/7/2007 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN; Quyết định số 2/2007/QĐ-KTNN ngày 26/6/2007 ban hành Hệ thống Mẫu biểu Hồ sơ kiểm toán; Quyết định số 3/2007/QĐ-KTNN ngày 26/7/2007 ban hành Quy chế công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN; Công văn số 574/KTNN-TH ngày 23/7/2007 về tăng cường kiểm soát chất lượng các cuộc kiểm toán…), nhờ đó chất lượng kiểm toán năm 2007 ngày được nâng cao, cụ thể:

Đọc tiếp »

Những con số tổng kết của cả năm 2008, những nhận định triển vọng của các công ty trên thị trường dường như cho thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ tiếp tục phát triển mạnh, bất chấp các ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài chính thế giới. Tuy nhiên, tình hình thực tế không hẳn là như vậy.

Cả năm 2008, thị trường vẫn tăng trưởng 9,3% về tổng doanh thu phí bảo hiểm (đạt 10.339 tỷ đồng). Mặc dù doanh thu tăng, nhưng một chỉ tiêu không kém phần quan trọng là số hợp đồng khai thác mới lại giảm so với năm 2007, điều đáng nói là xu hướng giảm thể hiện rất rõ nét.

Nếu như quý I/2008, số lượng hợp đồng khai thác mới vẫn giữ được mức tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2007 thì bắt đầu tư quý II, số lượng hợp đồng khai thác mới đã giảm 5,69% so với cùng kỳ và mức giảm ngày càng lớn cho đến cuối năm 2008, quý IV/2008 giảm 27,38% so với cùng kỳ năm 2007. Tính chung cả năm 2008, số lượng hợp đồng khai thác mới giảm 13,71%.

Hai doanh nghiệp dẫn đầu thị trường là Prudential và Bảo Việt Nhân thọ đều giảm số lượng hợp đồng khai thác mới với tỷ lệ 17,23% và 32,14% so với năm 2007.

Đọc tiếp »

VĂN TẠO

Xu hướng ngày nay thể hiện rõ ràng, ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ Ngân hàng Bán lẻ (NHBL) cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai. Nếu như dịch vụ ngân hàng bán buôn được hiểu là việc cung cấp dịch vụ thông qua trung gian tài chính thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ việc cung cấp trực tiếp cho người tiêu dùng là doanh nghiệp và các cá nhân những giao dịch nhỏ lẻ.

Xét trên góc độ tài chính và quản trị ngân hàng, dịch vụ NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài và đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. Ngoài ra, dịch vụ NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng.

Đối với khách hàng, dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, nên dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi, tài khoản, vay vốn, mở thẻ tín dụng, nhu cầu về dịch vụ ngày càng cao. Theo các chuyên gia của học viện công nghệ Châu á AIT…, dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông  và công nghệ thông tin.

Nhờ ứng dụng CNTT trong dịch vụ NHBL giúp đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng.

Đọc tiếp »

TS. ĐOÀN THỊ HỒNG

Nhìn lại khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, mặc dù chưa đầy một năm nhưng mọi ngành trong nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều thời điểm biến động ngoài dự tính. Xét riêng trong lĩnh vực tiền tệ, ngành ngân hàng đang ở vị trí cao trong danh mục đầu tư thì cũng đã lùi lại trước tác động của yếu tố lạm phát.

Sự vận hành của thị trường đã đến lúc phải có sự can thiệp của nhà nước. Với chủ trương thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát của Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt thông qua các công cụ vĩ mô. Trong đó, lãi suất cơ bản được phát huy tác dụng bởi Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo đó, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong bối cảnh nền kinh tế xoay chiều đi theo hướng không thuận lợi, việc xác định nhân tố trọng yếu và tìm đối sách thích ứng kìm hãm lại chiều hướng đi xuống của nền kinh tế là vô cùng quan trọng. Một quyết định đúng đắn, đúng thời điểm sẽ mang lại hiệu quả vượt trội.

Sự cần thiết của việc điều hành chính sách tiền tệ bằng lãi suất cơ bản

Cuối năm 2007, lạm phát trong nước đã có dấu hiệu gia tăng, nếu để cho thị trường tiếp tục tự vận hành thì dẫn đến thất bại của thị trường. Do đó, cần phải có sự can thiệp của nhà nước để đưa thị trường đi đúng hướng. Việc điều hành lãi suất theo sát tín hiệu thị trường, có thể giúp các NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lý, tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi, TCTD và người đi vay. Công cụ được NHNN chú trọng là lãi suất cơ bản, vốn tồn tại sau một thời gian dài mờ nhạt.   

Đọc tiếp »

Theo Tạp chí Bảo hiểm Châu Á
                                                                                                                                                  Đức Minh – HHBHVN lược dịch

Tại phiên khai mạc Hội thảo đầu tiên về trục lợi bảo hiểm diễn ra tại Kuala Lumpur vào tháng 1 năm 2008, Ông Carl Rajendram CEO ISM đã đánh giá các vấn đề trục lợi bảo hiểm trong khu vực và các nhà hoạch định chính sách cần chú ý nhiều hơn nữa để giảm thiểu những rủi ro trục lợi bảo hiểm.
Quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM), một vấn đề nhức nhối hiện tại đối với ngành công nghiệp dịch vụ tài chính đã thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm trong khu vực, chú ý nhiều đến vấn đề trục lợi liên quan đến bảo hiểm như là một lĩnh vực chính trong việc cải tiến kinh doanh. Ngành bảo hiểm ước tính chi phí cho tổn thất trục lợi bảo hiểm chiếm khoảng 5% đến 10% trong tổng chi phí của ngành bảo hiểm. 
Nhận ra nhu cầu cần được chia sẻ những thực tế một cách tốt nhất giữa các thành viên và tác động của việc trục lợi xuyên biên giới, Ngày 21 tháng 10 năm 2006, Hiệp hội các nhà giám sát bảo hiểm quốc tế (IAIS) đã xuất bản một văn bản hướng dẫn ngay sau khi cuộc họp của IAIS ở Bắc Kinh kết thúc. Mục đích của văn bản này nhằm cung cấp các hướng dẫn để rủi ro trục lợi tiềm năng có thể được xác định và giảm thiểu. Văn bản hướng dẫn này bao gồm các nhà bảo hiểm (bao gồm cả các nhà tái bảo hiểm), các nhà trung gian bảo hiểm và các nhà giám sát bảo hiểm liên quan Nguyên tắc cơ bản số  27 (ICP 27).

Đọc tiếp »

Bội chi ngân sách năm 2009 sẽ vượt qua 4,82% GDP, mức đã được Quốc hội thông qua hồi cuối năm 2008. Nguyên nhân là do thu ngân sách đã giảm đáng kể, trong khi hàng loạt chính sách kích thích tài chính được ban hành.
Trong phiên họp ngày 30-31/3, Bộ Tài chính đã đưa vấn đề này ra trước Chính phủ. Với kịch bản xấu nhất, bội chi ngân sách sẽ lên tới 8% GDP. Và Chính phủ đã nhất trí sẽ sớm trình lên Quốc hội mức bội chi mới, dự kiến sẽ không vượt quá 8% GDP.
Vậy với bội chi ngân sách khoảng 8% GDP, an ninh tài chính sẽ như thế nào?
Trả lời VnEconomy tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3 chiều ngày 31/3, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp nói:
– Hồi đầu năm nay, chúng ta xây dựng kế hoạch chi ngân sách trên cơ sở mấy yếu tố sau: tăng trưởng GDP 6,5%; giá dầu thô bình quân 70 USD/thùng; kim ngạch xuất khẩu tăng 13%. Đó là những yếu tố cơ bản liên quan đến thu chi ngân sách.
So sánh những dữ kiện đó, trong quý 1/2009, giá dầu thô dao động từ 40-50 USD/thùng; tốc độ tăng trưởng quý 1/2009, như chúng ta biết, chỉ đạt 3,1%; và xuất khẩu đã tăng rất thấp, quý 1/2009 chỉ tăng có 2,4%.
Bộ Tài chính có tính toán phương án cho cả năm thì dự kiến phương án tăng trưởng 5%. Khi mà tăng trưởng giảm từ 6,5% xuống 5% thì thu ngân sách theo đó sẽ giảm.
Thứ hai, giá dầu thô thì chúng tôi tính ba phương án: 40 USD/ thùng, 50 USD/thùng và 60 USD/thùng. Thu ngân sách chịu ảnh hưởng rất lớn từ giá dầu (năm 2008, thu từ dầu thô chiếm khoảng 25% tổng thu ngân sách – PV). Ngoài ra còn một số chính sách liên quan khác nữa như giãn thu thuế thu nhập cá nhân, giãn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 50% thuế VAT…
Với cả ba yếu tố này, kết quả đều dẫn tới giảm thu ngân sách khá lớn.

Đọc tiếp »

THS. NGUYỄN QUỐC VĂN

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế. Công ước đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/10/2003 trong phiên họp lần thứ 58 tại Niu -oóc. Việt Nam đã tham gia đầy đủ 07 vòng đàm phán xây dựng Công ước trong thời gian từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003. Ngày 10/12/2003, tại Hội nghị cấp cao để ký Công ước được tổ chức tại Mê -hi-cô, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra nhà nước đã cùng đại diện của 95 quốc gia khác tham gia ký Công ước. Theo quy định của Luật Quốc tế, việc mỗi quốc gia ký Công ước chủ yếu là biểu đạt thiện chí chính trị mà chưa ràng buộc về mặt pháp lý với Công ước. Để trở thành thành viên chính thức của Công ước, các quốc gia phải thực hiện việc phê chuẩn hay gia nhập Công ước.

Trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị đề xuất cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn Công ước được tiến hành từ năm 2004 đến nay, thì vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng được quy định tại Công ước đã thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của các bộ, ngành, các chuyên gia nghiên cứu và các cán bộ công tác thực tiễn, nhất là khi đánh giá các yêu cầu của Công ước đối với các quốc gia thành viên về vấn đề này và bàn về khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2009
H B T N S B C
« Th3   Th5 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 167 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements