NGUYỄN THỊ THU HẰNG

Trong số các vụ tranh chấp dân sự, kinh tế thì tranh chấp về hợp đồng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong đó phải kể đến tranh chấp HĐTD. Theo báo cáo môi trường kinh doanh 2008 công bố ngày 26/9/2007 của ngân hàng thế giới (WB), lĩnh vực vay vốn của Việt Nam xếp hạng 48/178, tiến bộ đáng kể so với vị trí 83/175 năm ngoái. Cũng theo báo cáo, Việt Nam trong năm qua đã mở rộng phạm vi các tài sản được dùng để thế chấp qua đó các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn. Đặc biệt, các hoạt động cho vay có thể được thuận lợi hoá nhờ việc cho phép sử dụng tài sản hữu hình và vô hình, kể cả tài sản hình thành trong tương lai làm vật thế chấp và đơn giản hoá một số thủ tục tố tụng trong lĩnh vực này. Và tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay luôn đồng hành với sự lên hạng đó.

Theo luật gia Phạm Xuân Thọ – người có mười năm làm trọng tài viên tại trọng tài kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và mười ba năm làm thẩm phán, chánh toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thì tranh chấp HĐTD chiếm tỷ lệ lớn thứ hai sau hợp đồng mua bán trong tổng số tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại.

Nguồn: Báo Thanh Niên

Trong thời gian qua, tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại trong đó có tranh chấp HĐTD không ngừng gia tăng đó là chưa kể đến các tranh chấp được các bên thoả thuận giải quyết bằng các phương thức khác như thương lượng, hoà giải hay trọng tài thương mại.

v Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng trên thực tế

 

Dạng tranh chấp HĐTD phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong HĐTD là dạng tranh chấp về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng. Hành vi vi phạm nghĩa vụ này, có thể là hành vi của bên cho vay (các ngân hàng và các định chế tài chính khác). Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, HĐTD là một dạng của hợp đồng ưng thuận có hình thức bắt buộc bằng văn bản (văn bản viết hoặc văn bản điện tử). Tại khoản 4 Điều 404 BLTTDS: “thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”; tại Điều 405 quy định: “hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Vì thế, sau khi HĐTD có hiệu lực, việc giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân. Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay như bên vay không tiến hành kế hoạch kinh doanh như dự kiến, không có vốn đầu tư vào dự án đầu tư, đấu thầu đã được đăng ký. Hậu quả là bên cho vay bị tổn thất rất lớn về hiệu quả kinh tế cũng như uy tín, danh dự, thậm chí thương hiệu của bên vay.

Tranh chấp HĐTD còn có thể xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và thậm chí cả gốc và lãi. Trên thực tế, có trường hợp hai bên không thoả thuận rõ ràng về lãi suất đối với cả thời hạn vay hoặc ban đầu do cần tiền để thực hiện kế hoạch của mình nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất đó nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý. Tuy nhiên, đa phần là dạng tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng khi đáo hạn.

Tình huống 1: Năm 1995, do nhu cầu sản xuất kinh doanh mở rộng, công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Đông (CTPĐ) đã vay của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn chi nhánh tỉnh Bắc Giang số tiền là 400,667 triệu VNĐ, trong đó lần vay cuối cùng ngày 24/6/1996 là 80 triệu VNĐ do trung tâm tư vấn doanh nghiệp tỉnh Bắc Giang bảo lãnh. Số vay còn lại được công ty Phương Đông thế chấp bằng ngôi nhà ba tầng có diện tích 482 mét vuông, là trụ sở làm việc và mặt bằng sản xuất của công ty. Nhưng sau đó, do hoạt động kinh doanh thua lỗ nên khi đến hạn công ty Phương Đông đã không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn như đã cam kết. Vì thế, ngày 12/4/1999 ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Giang đã khởi kiện công ty Phương Đông phải thanh toán cả gốc và lãi là 802.877 triệu VNĐ.

Đây là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Nguồn: VietNamnet ngày 5/7/2004

Dạng tranh chấp cũng khá phổ biến của HĐTD đó là tranh chấp về việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD có bảo đảm bằng tài sản. Các tổ chức tín dụng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể thanh toán được nợ. Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của bên vay. Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có nguồn bổ sung chắc chắn các tổ chức tín dụng sẽ rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Vì thế, để bảo vệ lợi ích của mình các ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải có bảo đảm cần thiết ngoại trừ những khách hàng hoạt động tốt và có quan hệ tín dụng thường xuyên. Trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản, tổ chức tín dụng cho vay luôn có quyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản bảo đảm đang nằm ở đâu và trong sự quản lý của ai. Quyền này của các tổ chức tín dụng được xác lập trên cơ sở giao dịch bảo đảm giữa tổ chức tín dụng (bên nhận bảo đảm) với khách hàng vay hoặc người thứ ba – người bảo lãnh (gọi là bên bảo lãnh). Với tư cách là một chủ nợ có bảo đảm, khi đến hạn mà khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín dụng này được quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản bảo đảm trước các chủ nợ có bảo đảm đăng ký sau hoặc trước những chủ nợ không có bảo đảm bằng tài sản đó. Hiện nay, theo quy định của pháp luật có ba hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Qúa trình xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại các Điều từ 236 đến Điều 371 BLTTDS 2004, Nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật, nên rất dễ phát sinh tranh chấp.

Tình huống 2: Trường hợp bà Nguyễn Thị Bé Bẩy (ngụ tại đường Hậu Giang, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh) vay ngân hàng ACB chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh trong đó số tiền bảo đảm gồm: 5,000 Euro; 2,000 bảng Anh và 8,0 00,000 Yên Nhật. Nhưng đến khi đi thanh lý hợp đồng và ký hợp đồng mới thì số tiền 8,000,000 Yên Nhật dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ chỉ còn 800,000 Yên Nhật. Giải thích về sự việc này những người có trách nhiệm của ngân hàng cho biết: “đã có sự nhầm lẫn. Mặc dù biên bản là như vậy nhưng thực tê chỉ có 800,000 Yên . Với chiếc bao đựng tiền trên không thể nào đựng được 8,000,000 Yên trong cùng một gói.” Biên bản trên khiến hai bên đã phải đưa nhau ra toà nhờ phân xử.

Nguồn : www.the8x.net ngày 20/2/2008

Theo quy định tại Điều 12 nghị định số 163/2006/NĐ- CP thì việc cầm cố trên không thuộc trường hợp phải đăng ký nhưng nếu một trong hai bên yêu cầu thì sẽ được đăng ký giao dịch bảo đảm. Với một số ngoại tệ lớn như thế để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình các bên nên yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm tại cục đăng ký giao dịch bảo đảm Quốc Gia, khi đó sẽ không xảy ra tranh chấp đáng tiếc này.

Dạng tranh chấp nữa của HĐTD là tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng. Tranh chấp này ngày càng đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài. Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp. Liên quan tới những tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của các ngân hàng và các định chế tài chính nước ngoài khác.

Dạng tranh chấp chiếm một tỷ lệ khá lớn trong HĐTD là dạng tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những HĐTD có bảo đảm bằng tài sản. Đối với những hợp đồng cho vay tiêu dùng, việc xác định tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của vợ chồng hay tài sản riêng của từng người có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xử lý tài sản này. Có nhiều trường hợp các nhân viên ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Đối với những hợp đồng cho vay kinh doanh, liên quan tới xác định tài sản bảo đảm có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên khách hàng hay không, tổ chức đó có đủ tư cách pháp lý theo quy định của pháp luật để tiến hành ký kết hợp đồng không? Trên thực tế, khi HĐTD được ký kết thì phía ngân hàng mới biết bên khách hàng ký không đúng thẩm quyền.

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn là những tranh chấp về luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài mà khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng.

Tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, diễn biến cũng đa dạng và có tính chất phức tạp. Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết. Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm đáng kể số lượng tranh chấp.

b. Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng

Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xem xét theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một trong những cách tiếp cận thông dụng là phân tích nguyên nhân gây ra từ phía bên cho vay, bên vay và những quy định của pháp luật.

v Nguyên nhân từ phía bên cho vay có thể bao gồm :

Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như đã cam kết. Các tổ chức tín dụng không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kịên cho vay. Nhiều tổ chức cho vay không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay (character), năng lực trả nợ (capacity), dòng tiền mặt (cash folow), tài sản thế chấp (collaral), các điều kiện môi trường (conditions), sự kiểm soát (control), mà vẫn dựa vào cảm tính của các nhân viên ngân hàng. Điều này, tạo điều kiện cho các tổ chức “tín dụng đen” ngày càng được tổ chức ở phạm vi rộng rãi hơn, quy mô hơn và nhiều người đã trở thành nạn nhân của các tổ chức này. Trên thực tế, bên cho vay khi tiến hành thẩm định cũng không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một tổ chức tín dụng đen nào không.

Chính sách và quy trình cho vay chưa thực sự chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng khi đáo hạn. Ở Việt Nam, các ngân hàng thường dựa chủ yếu vào giá trị tài sản bảo đảm để quyết định cho vay nên nhiều khi bỏ qua nhiều khách hàng tiềm năng.

Bên cho vay chấp hành chưa đầy đủ các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay của Ngân hàng Nhà nước, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay. Nhiều tổ chức tín dụng khi đánh giá về biện pháp bảo đảm tiền vay chỉ dựa vào nguồn số liệu khách hàng cung cấp chưa có sự kiểm chứng các sổ sách kế toán và thực tiễn kiểm kê. Phần lớn các nhân viên tín dụng phân tích, đánh giá chưa chính xác khi tiến hành thẩm định nên kết quả thường phán ánh không đúng thực tế hoạt động của khách hàng.

Thiếu thông tin khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi đưa ra quyết định cấp tín dụng. Dó đó, nhiều tổ chức tín dụng cho vay mà không biết một cách đầy đủ chính xác các thông tin cụ thể về khách hàng.

Tình huống 3: Nguyễn Minh Hoa – chủ tịch Hội đồng thành viên công ty ISACO – công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất muối công nghiệp địa chỉ tại thị xã Bà Rịa, Vũng Tàu. Ngày 18/4/2000, Hoa ký hợp đồng với ISACO cam kết góp 3 tỷ đồng nhưng sau đó không có tiền nên Hoa xin góp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trị giá 10 tỷ đồng. Sau đó, lợi dụng danh nghĩa công ty bà Hoa đã vay gần 20 tỷ đồng của các chi nhánh ngân hàng khác, số tiền vay được hoàn toàn bị sử dụng sai mục đích.

Nguồn: www.tuoitre.com.vn 20/2/2008.

Qua ví dụ trên, có thể thấy thông tin tín dụng có vai trò quan trọng và quyết định tới sự phát triển của chính các tổ chức tín dụng. Trong quá trình thực hiện HĐTD, các tổ chức cho vay phải thường xuyên thực hiện quyền kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng. Theo thạc sĩ Nguyễn Hữu Đương – Học viện Ngân hàng thì: “giả sử trong ngành ngân hàng hoạt động tín dụng như một nhà máy với sản phẩm đầu ra là các khoản tín dụng. Trong đó, quản trị rủi ro là một phân xưởng quan trọng trong dây chuyền công nghệ để tạo ra sản phẩm. Thông tin tín dụng là một phần nguyên liệu đầu vào cho phân xưởng đó. Nguyên liệu đó bao gồm thông tin lịch sử, hiện tại và xu hướng phát triển của khách hàng (gồm cả về tài chính và phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bình ngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay”. Trong quá trình tiến hành hoạt động cho vay, các bên cho vay nên đặc biệt lưu tâm tới các điều kiện của bên vay để có những quyết định đúng đắn, tránh những tranh chấp về sau.

Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số nhân viên tín dụng chưa đủ tầm dẫn đến có trường hợp khách hàng vay vốn có thế chấp bằng tài sản nhưng vẫn được giữ cả vật thế chấp và giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của họ. Rồi sau đó, khách hàng đem bán tài sản bảo đảm cho người thứ ba. Khi đó cả ngân hàng và người thứ ba đều cho rằng tài sản đó phải thuộc sở hữu của mình. Trên thực tế, đã có nhiều tranh chấp HĐTD phát sinh do nguyên nhân này.

Như vậy, đối với bên cho vay cần tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình, điều kịên cho vay, nâng cao đội ngũ nhân lực ngân hàng, củng cố và phát triển hệ thống thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hoạt động của bên vay có đúng như cam kết không.

v Nguyên nhân từ phía bên vay: Các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD do người vay bao gồm:

Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình. Điều này, có thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan chi phối.

Về mặt khách quan: là những nguyên nhân tác động ngoài ý chí của khách hàng như do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi… làm cho hoạt động của bên vay không tiến hành được như kế hoạch đã định.

Về mặt chủ quan: là yếu tố xuất phát từ mỗi khách hàng. Đó có thể xuất phát từ vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả là doanh nghiệp thua lỗ lâm vào tình trạng phá sản. Ngoài ra, nhiều trường hợp do khách hàng cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn.

Do khách hàng thiếu hiểu biết về pháp luật. Hiện nay, trình độ hiểu biết của khách hàng về những kiến thức pháp luật liên quan còn rất hạn chế. Đã có nhiều trường hợp khách hàng ký những hợp đồng trái pháp luật, đặt bản thân họ vào tình trạng bất lợi và phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề.

Tình huống 4: Bà Phan Ngọc Dung ở Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 bà thế chấp ngôi nhà của mình để vay vốn ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Tân Tạo số tiền 240 triệu VNĐ đầu tư cho cơ sở may gia công. Nhưng sau đó do không có hiểu biết về những quy định của pháp luật bà Dung đã ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay mới. Hiện tại, khoản tín dụng mới không vay được, khoản tín dụng trước thì chưa có khả năng thanh toán và bên vay còn phải đối mặt với nguy cơ mất nhà do chủ nợ đang khởi kiện ra toà yêu cầu thực hiện hợp đồng bán nhà trên.

Trong tình huống trên, nếu bà Dung có kiến thức về pháp luật nhất là pháp luật ngân hàng thì sẽ không dẫn đến ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay. Hiện nay, sự hiểu biết những quy định pháp luật của một số lượng lớn người dân còn nhiều hạn chế.

Nguồn: baothanhnien 06/08/2007

Trong thời gian tới, Nhà nước cần có nhiều kênh thông tin tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận và nắm vững được các quy định của pháp luật, hạn chế được những rủi ro đối với các bên.

v Nguyên nhân nữa làm phát sinh tranh chấp HĐTD là do quy định của pháp luật.

Nhiều quy định của pháp luật còn chưa được hiểu thống nhất, dẫn đến mỗi bên hiểu theo những cách khác nhau nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình, từ đó nảy sinh những bất đồng mâu thuẫn và đi đến tranh chấp. Hiện nay, pháp luật quy định các bên cho vay nếu muốn từ chối khách hàng nào thì bắt buộc phải đưa ra các căn cứ hay những lý do chính đáng. Nhưng chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Vì thế, phía người cho vay quan niệm rằng cho vay là quyền được tự do kinh doanh của họ vì vậy lý do có chính đáng hay không do ho quyết định. Còn người đi vay thì không đồng ý với cách hiểu đó và trong những trường hợp bị từ chối họ sẵn sàng khiếu nại tới các cơ quan liên quan để yêu cầu giải quyết. Cả hai cách hiểu đó đều không thoả đáng. Để khắc phục tình trang này, nhất thiết phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để các bên trong hợp đồng cũng như các nhà áp dụng pháp luật được thông nhất.

Nhiều quy định còn chồng chéo nhất là các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm. Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo kẽ hở trong quản lý. Theo Nghị định số 163/2006/NĐ- CP cho phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn hình thức xử lý đa dạng như bán tài sản thế chấp, nhận các khoản tiền và tài sản từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, phương thức khác do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được phương thức xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì các tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực hiện được các bên lại phải ký hợp đồng uỷ quyền tại đơn vị bán đấu giá có thẩm quyền. Điều này thường không thực hịên được do bên thế chấp không đồng ý và khi đó các tổ chức cho vay không có cơ chế nào để bảo vệ được quyền lợi của mình.

Để hạn chế được các tranh chấp thì trước hết phải có cách hiểu thống nhất và những quy định cần được hướng dẫn thi hành một cách cụ thể. Đây cũng là một trong những công tác cần làm tốt trong quá trình ban hành và sửa đổi những quy định của pháp luật.

2 Đánh giá về tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án hiện nay và những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chất lượng bản án.

a. Đánh giá về tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án hiện nay

Quốc hội khoá X kỳ họp thứ X đã thông qua Luật các tổ chức Toà án nhân dân vào ngày 2/4/2002. Điều 1 của Luật quy định thẩm quyền của Toà án nhân dân xét xử các vụ án hình sự, hôn nhân – gia đình, hành chính, dân sự, kinh tế và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, BLTTDS 2004 được ban hành và có hiệu lực từ 1/1/2005. Qua mấy năm hoạt động và thực hiện BLTTDS, các Toà án nhân dân các cấp có thẩm quyền đã từng bước vận dụng tối ưu các quy định của pháp luật để giải quyết các tranh chấp. Việc giải quyết đã góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh, đảm bảo công khai, trực tiếp, bước đầu tạo niềm tin cho các bên tranh chấp vào phương thức giải quyết tại Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp HĐTD thời gian qua đã có nhiều chuyển biến. Tranh chấp HĐTD chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các vụ án đã thụ lý và giải quyết tại toà kinh tế. Năm 1999 chiếm 32,16%, năm 2000 chiếm 42,58% và 8 tháng 2001 chiếm 38,8%. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ là 2%, bị sửa là 3%. So với 2005, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ giảm 0,5%, bị sửa giảm 0,9%. Trong đó, tỷ lệ các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị huỷ để giải quyết chiếm 2,3%, bị sửa chiếm 3,4%, tỷ lệ các bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm bị huỷ chiếm 3,2%.

Qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp HĐTD tại Toà án thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Cụ thể là:

Một là, BLTTDS đã quy định chi tiết về thời hạn Toà án phải trả lời nguyên đơn (5 ngày kể từ ngày Toà án nhận được đơn khởi kiện), thời hạn chuẩn bị xét xử (từ 2 – 4 tháng) và thời hạn mở phiên toà sơ thẩm (từ 1- 2 tháng kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử). Quy định này đã nâng cao trách nhiệm của các Toà án trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp HĐTD .

Hai là, việc giải quyết tranh chấp HĐTD đã được thống nhất theo một thủ tục tố tụng chung- thủ tục tố tụng dân sự. Điều này đã khắc phục được hạn chế lớn trước đây trong giải quyết tranh chấp HĐTD. Trước khi có BLTTDS, Toà án phải mất nhiều thời gian để xác định tranh chấp HĐTD cần được giải quyết là tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh tế để áp dụng quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự hay kinh tế. Hiện nay, vấn đề này không đặt ra nữa. Điều này, đã tiết kiệm được thời gian cho các cơ quan tư pháp và cho chính các bên tranh chấp.

Ba là, Toà án nhân dân các cấp đã không ngừng nâng cao chất lượng xét xử, làm rõ những yêu cầu của đương sự trong vụ án, tăng cường phối hợp với các cơ quan hữu quan để giải quyết vụ án.

Bốn là, công tác giải quyết tranh chấp về cơ bản được thực hiện đúng các quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.

Năm là, tình trạng sai phạm của các cán bộ ngành Toà án đã bước đầu được xử lý và tiến hành bồi thường cho các đối tượng bị xử oan sai, đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nêu trên nhưng hoạt động của Toà án đối với giải quyết các tranh chấp HĐTD vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế khiến quá trình giải quyết còn chưa thực sự có hiệu quả. Đó là:

Tình trạng để các vụ tranh chấp quá thời hạn không được giải quyết. Theo báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án thì tình trạng này chiếm tỷ lệ cao chủ yếu tập trung ở Toà án cấp sơ thẩm, một số đơn vị còn nhiều vụ tranh chấp tồn đọng như các Toà án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện của thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bến Tre…điều đáng chú ý là thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước nhưng lại là nơi có số lượng án tồn đọng nhiều nhất cả nước.

Nhiều vụ tranh chấp để kéo dài, qua nhiều lần xét xử vẫn không tìm được phương án giải quyết thoả đáng, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các bên. Vẫn còn tình trạng một số bản án của Toà án không rõ ràng, gây khó khăn cho việc đảm bảo bản án của toà được thi hành.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, do việc nghiên cứu tài liệu, chứng cứ không đầy đủ, rõ ràng, đánh giá chứng cứ không đúng với sự thật khách quan, thậm chí có thẩm phán còn xác định sai tư cách tố tụng của đương sự hoặc triệu tập không đầy đủ những người bắt buộc phải tham gia phiên toà dẫn đến nhiều phiên toà vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và kết quả là bản án được tuyên bị huỷ vì vi phạm nghĩa vụ tố tụng.

Công tác thụ lý và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm còn chậm, nhiều bản án phúc thẩm còn giải quyết chưa thoả đáng, việc phát hiện những sai sót của Toà án sơ thẩm còn chưa tiến hành kịp thời để đưa ra những giải pháp khắc phục. Số lượng bản án phúc thẩm bị xét lại theo tủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm còn chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số vụ án thụ lý giải quyết. Việc tố tụng chậm, sai, phiền hà đã ảnh hưởng tiêu cực tới các bên trong HĐTD. Đối với các tổ chức tín dụng cho vay, việc giải quyết tranh chấp HĐTD kéo dài, bên cho vay không thuô hồi được vốn cho vay, ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức đó. Còn đói với bên vay, tranh chấp kéo dài có thể làm cho việc ký kết những hợp đồng vay với các tổ chức tín dụng cho vay khác để mở rộng nguồn vốn kinh doanh gặp khó khăn. Ngoài ra, thủ tục tố tụng phiền hà còn tạo tâm lý e ngại sử dụng thủ tục này của các bên trong tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Đối với công tác giám đốc thẩm, tái thẩm và giải quyết khiếu nại vẫn chưa đảm bảo được những quy định của pháp luật. Công tác kiểm tra, giám đốc của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới còn hạn chế, nên chưa kịp thời phát hiện các vi phạm để khắc phục và xử lý.

Một số văn bản pháp luật đã có hiệu lực thi hành trong một thời gian khá dài nhưng nhiều quy định trong các văn bản đó chưc được Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng các cơ quan hữu quan trong phạm vi thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành nên có tình trạng các toà áp dụng không thống nhất và kết quả các bản án hoàn toàn trái ngược nhau giữa các toà.

Đội ngũ cán bộ Toà án hiện nay còn thiếu về số lượng và yếu kém về năng lực, có một số cán bộ Toà án sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao nên đã có những hành vi vi phạm làm ảnh hưởng không nhỏ tới danh dự, uy tín của ngành tư pháp. Năm 2006, đã có 21 cán bộ Toà án bị xử lý kỷ luật, trong đó có 9 thẩm phán, có 4 trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Sự yếu kém về năng lực chuyên môn, không vững vàng về quan điểm lập trường chính trị đã đưa đến nhiều hậu quả đáng tiếc ảnh hưởng tới chất lượng xét xử cũng như uy tín của ngành Toà án.

Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của Toà án còn nhiều hạn chế. Qúa trình giải quyết các tranh chấp còn mất nhiều thời gian, nhiều loại chi phí, nhiều đầu mối trung gian trong khi đó lĩnh vực tài chính ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm yêu cầu giải quyết nhanh gọn để các bên có thể tiến hành hoạt động bình thường.

Những hạn chế tồn tại trên do nhiều nguyên nhân trong đó các nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Tinh thần trách nhiệm trong công tác xét xử, năng lực quản lý và điều hành của các cán bộ ngành Toà án, nhất là Toà án địa phương các quận, huyện còn nhiều hạn chế. Trình độ của các thẩm phán còn chưa đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn. Ở nhiều Toà án, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm nguồn bổ nhiệm thẩm phán còn chưa được chú trọng đúng mức.

Ngoài ra, pháp luật của Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung để dần dần hoàn thiện. Vì thế, nhiều bộ luật, luật được ban hành mà chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết thi hành, nhiều quy định chồng chéo không thực hiện được trên thực tế hoặc được áp dụng không thống nhất trong hệ thông cơ quan tư pháp.

b. Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng bản án.

Thứ nhất, yếu tố đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bản án là nhân tố con người mà trực tiếp là đội ngũ các thẩm phán và hội thẩm nhân dân – những người tham gia hoạt động xét xử tại phiên toà. Một bản án dù được nghị án thông qua trên cơ sở những quy định của pháp luật nhưng suy cho cùng những quy định đó được hiểu và áp dụng thông qua lăng kính chủ quan của con người – những thành viên trong hội đồng xét xử. Vì thế, các thẩm phán phải là những người có đầy đủ kiến thức về chuyên môn, am hiểu kiến thức xã hội, có lập trường quan điểm tư tưởng vững vàng mới có thể đánh giá đúng sự thật khách quan và đưa ra những phương án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, trình độ của các thẩm phán còn bất cập như chưa đáp ứng về chuyên môn, khả năng ngoại ngữ, kinh nghiệm xét xử nên trong những vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài công tác giải quyết gặp rất nhiều khó khăn. Không chỉ các thẩm phán mà mỗi cá nhân các hội thẩm nhân dân khi tham gia xét xử cũng phải trang bị những kiến thức pháp luật cần thiết để có thể xét xử độc lập với thẩm phán và tuân theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ hai, đó là hoạt động cung cấp chứng cứ, tài liệu và việc chứng minh của các chủ thể liên quan, nhất là các đương sự. Trước Toà án, nếu các đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì không thể thuyết phục được Toà án bảo vệ quyền cho mình. Vì trên thực tế, các Toà án cũng có thể có sai lầm trong việc xác định các tình tiết, sự kiện của vụ tranh chấp. Vì lý do này, một mặt dẫn tới việc giải quyết vụ án không đúng với sự thật khách quan, mặt khác làm cho đương sự không bảo vệ được quyền lợi của mình. Do vậy, chứng minh không chỉ có ý nghĩa bảo đảm quyền cho đương sự mà còn có ý nghĩa giúp hội đồng xét xử có những căn cứ pháp lý để giải quyết vụ án một cách chính xác và đúng luật.

Thứ ba, thực trạng các quy định của pháp luật. Để có một bản án tốt thì nhất thiết các quy định của pháp luật phải thống nhất, được hiểu một cách nhất quán tránh tình trạng các Toà rất lúng túng trong áp dụng những quy định trong các luật liên quan. Những quy định trong các luật, bộ luật mới dừng lại ở việc quy định những nguyên tắc chung mang tính định hướng cho từng lĩnh vực chuyên ngành đó. Vì thế, để thống nhất trong cách hiểu và các cơ quan tư pháp nhất quán trong áp dụng giải quyết tranh chấp các văn bản pháp luật phải rõ ràng, minh bạch hoặc phải kịp thời được hướng dẫn.

Thứ tư, vai trò của người tham gia tố tụng cũng góp phần quyết định tới chất lượng bản án. Theo quy định BLTTDS, đối với những phiên toà sơ thẩm sự có mặt của một số người tham gia tố tụng là bắt buộc. Nhưng trên thực tế, có nhiều phiên toà xét xử đã vi phạm nguyên tắc này, kết quả là Toà án đã tuyên bản án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đối với những bản án như vậy, Toà án cấp trên sẽ phải xử huỷ để xét xử lại tốn nhiều thời gian và chi phí cho các bên cũng như cho Nhà nước.

Thứ năm, sự giám sát của Viện kiểm sát đối với những hoạt động tố tụng của Toà án trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng bản án. Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thông qua những hoạt đông như: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng của Toà án như kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, hoà giải, xét xử, ra bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng và những người liên quan trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng; yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án được kịp thời, đúng pháp luật; tham gia các phiên toà xét xử vụ án tranh chấo hợp đồng tín dụng; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cá nhân và tổ chức liên quan đến thi hành án. Sự tham gia của Viện kiểm sát có ý nghĩa quan trọng, để hoạt động tố tụng tại toà được đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật, nâng cao trách nhiệm của Toà án đối với quá trình giải quyết.

3. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án

Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Thời gian qua, các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và những định chế tài chính khác đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện từng bước theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như với thực tiễn áp dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại những bất cập trong hệ thống pháp luật ngân hàng và các văn bản pháp luật liên quan làm cho các bên cũng như các cơ quan tham gia giải quyết tranh chấp lúng túng, không thống nhất đuợc cách áp dụng.

a. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng liên quan tới giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Một là, bổ sung các quy định về thủ tục rút gọn đối với giải quyết tranh chấp HĐTD.

Theo quy định của BLTTDS, thủ tục giải quyết tranh chấp HĐTD còn mất rất nhiều thời gian. Thông thường để giải quyết xong một tranh chấp HĐTD phải mất gần hai năm (bao gồm cả sơ thẩm và phúc thẩm), chưa kể một khoảng thời gian không nhỏ để tiến hành thi hành án. Điều này làm cho các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác cho vay không thu hồi được nợ, ảnh hưởng tới hoạt động của bên cho vay. Đối với những tranh chấp HĐTD mà chứng cứ rõ ràng, bị đơn có địa chỉ, lai lịch cụ thể, họ thừa nhận nghĩa vụ của mình trước nguyên đơn,nếu nguyên đơn xuất trình được chứng cứ bằng văn bản để chứng minh cho yêu cầu của mình và nếu như bị đơn cùng tất cả những người liên quan khác trong vụ tranh chấp không có sự phản đối về sự giả mạo của bằng chứng đó thì Toà án có thể khẳng định được tính chính xác thực và độ tin cậy của các thông tin trong các văn bản đó. Do vậy, Toà án không phải mất nhiều thời gian để điều tra , xác minh mà vẫn có thể giải quyết đúng pháp luật vụ tranh chấp đó, đảm bảo giải quyết nhanh gọn, hiệu quả. Vì thế, thủ tục rút gọn có thể được quy định theo mô hình sau:

Có cơ chế để cán bộ Toà án có cơ sở để ban hành quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với những những tranh chấp được áp dụng thủ tục này.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Đối với những tranh chấp HĐTD áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn chuẩn bị xét xử là không quá 15 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Về thời hạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà.

Về phiên toà sơ thẩm: Thành phần tham gia xét xử đối với thủ tục rút gọn chỉ cần một thẩm phán mà không cần thành lập hội đồng xét xử. Không nên phải trải qua tuần tự tất cả các bước như đối với phiên toà thông thường.

Thủ tục rút gọn giải quyết các tranh chấp HĐTD đang còn là vấn đề xa lạ trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Mặc dù vậy, việc thừc nhận thủ tục rút gọn trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với chư trương cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong Báo cáo chính trị của Đảng: “Đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm”, [1, ]. Đồng thời đáp ứng được yêu cầu giải quyết các tranh chấp HĐTD đang ngày càng gia tăng, giảm bớt án tồn đọng hàng năm ở các cấp Toà án, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Hai lài, ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành một số quy định chưa cụ thể trong BLTTDS. Ví dụ như quy định hướng dẫn thực hiện các quy định về giao nộp chứng cứ, trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ.

Bổ sung Điều 84 BLTTDS, quy định cụ thể về thời hạn đương sự giao nộp chứng cứ cho Toà án và có văn bản quy định chi tiết về việc xử lý trách nhiệm trong trường hợp không nộp hoặc nộp không đầy đủ. Vì trong quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD chứng cứ là yếu tố quan trọng. Vì thế, cần quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm của đương sự để nâng cao trách nhiệm và giúp giải quyết nhanh vụ tranh chấp.

Ba là, bổ sung quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và nguồn bổ nhiệm thẩm phán và bầu hội thẩm nhân dân.

Trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp phát sinh từ HĐTD không chỉ giới hạn ở các chủ thể là tổ chức cá nhân Việt Nam mà còn liên quan tới các chủ thể có yếu tố nước ngoài. Điều này đòi hỏi đội ngũ thẩm phán không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải đáp ứng yêu cầu về khả năng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả. Với các hội thẩm nhân dân cũng cần nâng cao hiểu biết về pháp luật. Vì thế cần bổ sung tiêu chuẩn này vào quy định của Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm nhân dân số 02/2002/PLUBTVQH ngày 4/10/2002. Ngoài ra, nguồn bổ nhiệm thẩm phán không chỉ từ những người đang công tác trong ngành mà còn cả những người là các luật sư có đầy đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật.

Tiến hành công tác bổ nhiệm thẩm phán, đảm bảo không để thiếu thẩm phán như hiện nay. Có thể tăng nhiệm kỳ của các thẩm phán, tăng nguồn bổ nhiệm. Như vậy tạo điều kiện cho các thẩm phán yên tâm làm tốt công tác của mình. Trong tương lai có thể thay chế độ bổ nhiệm thẩm phán bằng chế độ thi tuyển thẩm phán, thực hiện công tác thi tuyển nghiêm túc, công bằng đối với các đối tượng dự thi.

b. Hoàn thiện các quy định của pháp luật ngân hàng.

Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề lãi suất của hoạt động cho vay. Để phù hợp với sự phát triển của hoạt động này,nên sửa đổi quy định tại Điều 476 BLDS.

Điều 476 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Lãi suất cơ bản để cho vay bằng đồng tiền Việt Nam áp dụng từ ngày 1/3/2008 là 8,75%/năm. Theo đó, mức lãi suất cho vay tối đa của các ngân hàng chỉ được ở mức 13,1%/ năm. Quy định như vậy là không phù hợp vì xét về bản chất HĐTD là sự tự do thoả thuận của các đương sự. Việc xác định lãi suất cho vay trong HĐTD phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

+ Lãi suất chung trên thị trường

+ Số tiền vay: Đối với các khoản vay trung và dài hạn có quy mô lớn, lãi suất cho vay thường thấp hơn các khoản vay cùng kỳ hạn nhưng có quy mô nhỏ hơn.

+ Thời hạn vay: Về nguyên tắc, có thể lãi suất cho vay trung và dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn vì tính thanh khoản thấp, chi phí nguồn vốn cho vay cao và chứa đựng nhiều rủi ro.

+ Loại khách hàng: khách hàng có mức tín nhiệm thấp phải chịu mức lãi suất cao hơn khách hàng có mức độ tín nhiệm cao hơn.

Hơn nữa, chỉ nên quy định lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước chỉ là một cơ sở để các bên thoả thuận lãi suất, thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận theo nguyên tắc thị trường.

Thứ hai, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể Khoản 1 Điều 11 Quyết định 1627 vì nhiều trường hợp cơ quan thi hành án khi áp dụng các văn bản luật không chấp nhận mức lãi suất mà các bên thoả thuận để xử lý nợ quá hạn đối với tài sản phát mại mà lấy lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố, mức lãi suất này thấp hơn nhiều so với lãi suất các bên thoả thuận trong HĐTD.

Thứ ba, sửa đổi nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm phần xử lý tài sản bảo đảm. Nghị định chưa có bất kỳ cơ chế nào để thu hồi tài sản bảo đảm trong trường hợp người thế chấp không chấp nhận tự nguyện giao tài sản cho ngân hàng để xử lý. Ngân hàng muốn xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là rất khó thực hiện. Khi đó, tổ chức tín dụng cho vay phải gửi đơn đến Toà án để giải quyết. Nhưng thủ tục quá rườm rà, phức tạp từ việc có đơn yêu cầu, ra quyết định thi hành án, thời gian tự nguyện thi hành, quyết định cưỡng chế, tiến hành thành lập hội đồng thẩm định và tiến hành bán đấu giá. Có trường hợp hoàn thành xong thủ tục thì khách hàng không còn khả năng thi hành. Để khắc phục tình trạng đó nên quy định khi xử lý tài sản bảo đảm mà bên cho vay không chịu giao tài sản cho bên vay để xử lý, bên vay có quyền đưa đơn lên toà đề nghị phể chuẩn quyết định xử lý tài sản bảo đảm mà không bắt buộc phải tiến hành thông qua nhiều thủ tục như quy định hiện hành. Dựa và quyết định đó, cơ quan thi hành án yêu cầu bên vay giao tài sản bảo đảm cho ngân hàng để xử lý.

Thứ tư, sửa đổi một số quy định của nghị định số 178/1999/NĐ- CP của chính phủ ngày 29/12/1999 và thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT/BCA-BTC-TCĐG ngày 23/4/2001 liên quan tới quyền bán tài sản đảm bảo để thu hồi nợ của các ngân hàng. Cần quy định chế tài cụ thể đối với các cơ quan chức năng như uỷ ban nhân dân, công an địa phương trong quá trình hỗ trợ ngân hàng thu hồi tài sản bảo đảm.

Thứ năm, bổ sung quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và nguồn bổ nhiệm thẩm phán và bầu hội thẩm nhân dân.

Trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp phát sinh từ HĐTD không chỉ giới hạn ở các chủ thể là tổ chức cá nhân Việt Nam mà còn liên quan tới các chủ thể có yếu tố nước ngoài . Điều này đòi hỏi đội ngũ thẩm phán không chỉ phải giỏi về chuyên môn mà còn phải đáp ứng yêu cầu về khả năng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả. Với các hội thẩm nhân dân cũng cần nâng cao hiểu biết về pháp luật. Vì thế cần bổ sung tiêu chuẩn này vào quy định của Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm nhân dân số 02/2002/PLUBTVQH ngày 4/10/2002. Ngoài ra, nguồn bổ nhiệm thẩm phán không chỉ từ những người đang công tác trong ngành mà còn cả những người là các luật sư có đầy đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật.

Tiến hành công tác bổ nhiệm thẩm phán, đảm bảo không để thiếu thẩm phán như hiện nay. Có thể tăng nhiệm kỳ của các thẩm phán, tăng nguồn bổ nhiệm. Như vậy tạo điều kiện cho các thẩm phán yên tâm làm tốt công tác của mình. Trong tương lai có thể thay chế độ bổ nhiệm thẩm phán bằng chế độ thi tuyển thẩm phán, thực hiện công tác thi tuyển nghiêm túc, công bằng đối với các đối tượng dự thi.

Pháp luật cũng nên thừa nhận quyền tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

Những kiến nghị đảm bảo thực hiện pháp luật

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật thì cũng cần có những cơ chế đảm bảo cho những quy định của pháp luật được thực hiện.

Thứ nhất, cần tăng cường các biện pháp giám sát, kiểm tra của Viện kiểm sát đối với hoạt động tố tụng của Toà án. Làm tốt công tác này có ý nghĩa rất quan trọng góp phần đảm bảo quá trình tố tụng được tiến hành đúng quy định của pháp luât và giảm đáng kể số án xử oan, sai.

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và kiến thức về HĐTD và giải quyết các tranh chấp này. Nếu làm tốt công tác này sẽ hạn chế được các tranh chấp phát sinh và tăng cường khả năng ký kết các HĐTD giữa các chủ thể. Đi tiên phong trong hoạt động này, ngày 1/9/2006 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức ra mắt trang website đầu tiên để phổ biến những quy định của pháp luật, tham gia vào mạng thông tin tích hợp trên internet của thành phố. Với nội dung phong phú cụ thể như mục hỏi đáp thông tin pháp luật, lịch xét xử của toà, các mục trình bày về thủ tục tố tụng, những điều kiện về khởi kiện… đã giúp công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được thực hiện một cách thuận lợi. Mô hình nay cần được mở rộng hơn nữa ở Toà án các cấp.

Thứ ba, cần đề cao trách nhiệm cá nhân đối với từng chức danh cán bộ tư pháp, đặc biệt là người đứng đầu các đơn vị và các thẩm phán. Tăng cường thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh đối với các cá nhân, tập thể cán bộ của tòa án có vi phạm. Đối với các trường hợp vi phạm pháp luật, phẩm chất đạo đức kém phải kiên quyết loại bỏ khỏi ngành tư pháp. Còn với đội ngũ tham gia hoạt động xét xử (thẩm phán và hội thẩm nhân dân (nếu có)) có bản án tuyên không đúng, bị hủy, bị sửa do có sai lầm nghiêm trọng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, gây thất thoát tài sản Nhà nước thì cần tiến hành kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để có biện pháp xử lý phù hợp với các quy định pháp luật mà trực tiếp là Nghị quyết số 388 của Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội.

Thứ tư, đổi mới và hoàn thiện phương thức tổ chức, chỉ đạo, điều hành và thủ tục hành chính- tư pháp trong hệ thống tòa án nhân dân các cấp theo hướng nhanh gọn, hiệu quả và thuận lợi cho các bên tranh chấp trong quá trình tiến hành các thủ tục luật định, cải tiến phương pháp và lề lối làm việc với phương châm quyền hạn đi liền với trách nhiệm, thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành, phân công và thường xuyên kiểm tra hoạt động của các cán bộ tòa án.

NGUỒN: Trích từ Khoá luận tốt nghiệp Đại học Cử nhân Luật, Đại học Luật Hà Nội, tên đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng – những vấn đề lý luận và thực tiễn”  – Người hướng dẫn: ThS. Trần Vũ Hải

Advertisements