TS. NGUYỄN MINH PHONG

Hơn 10 năm trước đây, thế giới đã chứng kiến sự đổ vỡ bất ngờ và mau chóng của hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ theo mô hình Xô Viết cũ từng tồn tại gần 80 năm trên phạm vi toàn cầu.

Những tháng cuối năm 2008, cơn bão khủng hoảng tài chínhhand phố Wall bùng phát đột ngột, gia tốc cực nhanh, các động thái nhiều kịch tính với những lốc xoáy dữ dội, hệ lụy mất ổn định và suy thoái toàn cầu, đặt ra nhiều bài toán phức tạp chưa có tiền lệ, đòi hỏi và phát động những phối hợp quy mô quốc tế, những tranh cãi căng thẳng đến nghẹt thở và những tổn phí giải cứu đắt đỏ trị giá nhiều ngàn tỷ USD cả trong và ngoài nước Mỹ… cũng lập tức trở thành sự kiện chưa từng có suốt 80 năm nay trong thế giới kinh tế thị trường tự do cao độ theo mô hình Mỹ, là ”giọt nước làm tràn ly”, hạ bệ và hủy hoại không thương tiếc “các giá trị Mỹ” vốn đề cao sáng kiến cá nhân và khả năng tự điều chỉnh của các thể chế thị trường,

Sự liên tiếp và cộng hưởng của hai sự kiện lịch sử có tầm vóc toàn cầu này đã chính thức gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh toàn cầu báo hiệu một thế giới đang biến đổi, không có ngoại lệ ”miễn dịch đổ vỡ” cho bất kỳ một tập đoàn – “đại gia” kinh tế, tài chính nào (dù sở hữu hàng trăm, ngàn tỷ USD và kinh nghiệm kinh doanh hàng trăm năm tuổi), cũng như cho bất kỳ một thể chế kinh tế – chính trị nào (dù là siêu cường hàng đầu thế giới) khi không tôn trọng các quy luật kinh tế – xã hội khách quan, do đó, đòi hỏi một tư duy mới thích ứng về “bàn tay quản lý kinh tế của Nhà nước” – trong từng quốc gia, cũng như trên phạm vi thế giới.

1. Thế giới đang biến đổi

Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thế giới đang biến chuyển mạnh mẽ cả về lượng và chất, với các xu hướng chủ yếu:

Thứ nhất, tăng cường đối thoại, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, phụ thuộc và chế định lẫn nhau trong quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa, đồng nhất hóa môi trường kinh doanh, hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả vận hành của các nguyên tắc và thiết chế thị trường mở, vì sự phát triển bền vững của mỗi nước, cũng như của toàn thể cộng đồng.

Đối thoại ngày càng là sự lựa chọn ưu tiên cùng với sự gia tăng hợp tác trong cạnh tranh gay gắt trên tất cả các cấp độ và lĩnh vực, cả trong một quốc gia, cũng như trong quan hệ quốc tế. Hệ thống sản xuất, thương mại và tài chính quốc gia ngày càng mở rộng và quốc tế hóa. Nhân loại đang thực sự bước vào kỷ nguyên của các thị trường toàn cầu được kiểm soát tập thể (mặc dầu sự hoàn thiện của cơ chế kiểm soát này tỏ ra chưa theo kịp tốc độ toàn cầu hoá các thị trường đó). Đồng thời, sẽ ngày càng đậm nét hơn xu hướng hội tụ và “đồng nhất hóa” giữa các khối kinh tế, cung nhu cỏc qu? c gia về mô thức tổ chức, môi trường và nguyên tắc quản lý kinh tế chủ yếu trong nước, trong khu vực và trong phạm vi toàn cầu.

Thứ hai, tăng cường quá trình tái cấu trúc mới, đa dạng hóa và đa cực hóa về trung tâm, mô hình, động lực và cả mục tiêu phát triển, đa phương hóa việc quản lý và giải quyết các vấn đề của mỗi quốc gia cũng như quốc tế.

Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đang và sẽ có sự cải thiện căn bản theo hướng đa dạng hơn, gọn nhỏ hơn, nhiều chức năng hơn, tiện lợi, tinh xảo hơn, tiết kiệm năng lượng và rẻ hơn, do đó, phổ cập hơn và có tính chất cá nhân hơn; xuất hiện hàng loạt sản phẩm hoàn toàn mới với vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn lại, thậm chí rất ngắn. Giá trị của thông tin trở nên đắt hơn. Chất lượng nắm bắt, xử lý các thông tin trở thành nhân tố quyết định chất lượng sống, cũng như sự thành công của mỗi cá nhân và doanh nghiệp, do đó, cũng là yếu tố chủ yếu cho sự thành công của mỗi quốc gia.

Các công ty, một mặt, được tổ chức theo quy mô nhỏ (thậm chí có công ty một người), phi tập trung hoá, giảm bớt các khâu trung gian, cơ cấu thành nhiều đơn vị độc lập, có quyền tự chủ cao, giảm bớt tệ nạn quan liêu, được chuyên môn hoá cao, có tinh thần hợp tác, hoạt động mang tính toàn cầu chặt chẽ, và tuân thủ những tiêu chuẩn đạo đức ngày càng cao hơn; mặt khác, xu hướng hợp nhất để trở thành lớn, mạnh hơn, toàn cầu hơn, giảm chi phí và có sức cạnh tranh hơn cũng sẽ ngày càng gia tăng. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng to lớn trong việc tạo động lực cho tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu. Do ưu thế vượt trội về khả năng huy động vốn và các nguồn lực xã hội khác, về phân tán rủi ro, cũng như về khả năng gần như vô hạn mở rộng quy mô, lĩnh vực và phạm vi hoạt động… nên mô hình các công ty cổ phần, công ty mẹ – con, tổ hợp kinh doanh đa sở hữu sẽ ngày càng chiếm ưu thế vượt trội cả về số lượng, quy mô và sức cạnh tranh so với các loại hình công ty và tổ chức kinh doanh khác. Ngày nay, các công ty mạnh nhất, thành công nhất và có triển vọng phát triển nhất trên phạm vi quốc gia, cũng như thế giới đều thuộc nhóm mô hình công ty cổ phần này. Hơn nữa, hình thức chiếm hữu cổ phần trong công ty cổ phần còn là biểu hiện mới, là cơ chế thực hiện và phát triển tính chất xã hội hoá nền sản xuất quốc gia và thế giới trực tiếp, thực chất và hiệu quả nhất so với bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào. Có thể nói, khẳng định của C. Mác về sứ mệnh của công ty cổ phần như là một hình thức phổ biến và chủ yếu nhất trong tổ chức nền sản xuất hiện đại của tương lai đã, đang và tiếp tục được chứng minh trong thực tiễn và cho thấy tính khoa học bất diệt của học thuyết kinh tế mác – xít…

Các nền kinh tế quốc gia và quốc tế sẽ chuyển dịch theo hướng thu hẹp và mất dần đi các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống và hàng loạt ngành sản xuất mới sẽ xuất hiện và phát triển mạnh hơn. Các ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại nhiều lợi nhuận hơn trong nền kinh tế quốc gia và quốc tế.

Các công nghệ mới, các xa lộ thông tin, vận tải toàn cầu phát triển khiến thế giới trở nên “phẳng” hơn (được cộng hưởng bởi sự đồng nhất môi trường kinh doanh toàn cầu trong khuôn khổ các định chế kinh tế – thương mại – tài chính toàn cầu, như WTO…) và đẩy nhanh hơn tốc độ lưu chuyển các yếu tố của hoạt động tái sản xuất kinh tế – xã hội.

Con người lao động mới sẽ có tri thức toàn diện hơn, năng động, tự chủ hơn, di chuyển chỗ làm việc thường xuyên và trên phạm vi ngày càng rộng hơn, ngày càng trở thành trung tâm động lực và mục tiêu của phát triển. Đô thị hoá sẽ tăng nhanh. Các cấu trúc chính trị và giao lưu văn hoá – xã hội quốc gia và quốc tế sẽ có sự dịch chuyển tương ứng. “Nền kinh tế nợ” sẽ trở thành đặc trưng cho mọi công ty và quốc gia, kéo theo những xung lực tiềm ẩn gây bất ổn định thị trường tài chính – tiền tệ quốc gia và quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu bức bách hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát an toàn tài chính – tín dụng cả ở cấp vi mô lẫn cấp vĩ mô, cấp quốc gia, lẫn khu vực và quốc tế.

Thứ ba, chu kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa không mất đi và có sự rút ngắn khoảng cách giữa các chu kỳ, sự “mờ dần” ranh giới giữa các giai đoạn của một chu kỳ; ngày càng có sự gắn kết sâu đậm và tác động qua lại nhạy cảm và trực tiếp hơn giữa khủng hoảng chu kỳ kinh tế và khủng hoảng cơ cấu, đặc biệt là khủng hoảng tài chính – tiền tệ; thành thử, những giải pháp đối phó với chu kỳ ngày càng mang tính chất tài chính – tiền tệ, tri thức và quốc tế hoá hơn…

Khủng hoảng kinh tế và các chấn động cơ cấu (nhất là trong lĩnh vực năng lượng, môi trường và tài chính – tiền tệ) sẽ có xu hướng trở nên dày đặc và phổ biến hơn; sẽ ngày càng có xu hướng đan xen, lồng ghép, thậm chí trùng hợp hoặc “mờ dần” ranh giới giữa khủng hoảng chu kỳ với khủng hoảng cơ cấu (đặc biệt nếu tiếp cận dưới góc độ mới về nhu cầu trong nền kinh tế tri thức được đặc trưng bởi cơ cấu đa dạng, mềm dẻo, cá nhân hơn và có hàm lượng về sức khoẻ trí tuệ, văn hoá, tâm linh, tinh thần và môi trường cao hơn so với cách hiểu nhu cầu truyền thống v.v..).

Các cuộc khủng hoảng chu kỳ và cơ cấu của các nền kinh tế thị trường trên thế giới ngày càng mang tính quốc tế rất cao cả về nguyên nhân, tác động lẫn những giải pháp được đề xuất và ứng dụng nhằm đối phó với chúng. Đồng thời, vai trò của can thiệp kinh tế đang dịch chuyển dần từ “nhà nước quốc gia”, sang những “nhà nước quốc tế” (như nhóm G7, Nghị viện Châu Âu, IMF, WB…); tư bản tài chính và các chính sách tài chính – tiền tệ (được nhân bội sức mạnh bởi tính quốc tế hóa của mình) ngày càng vừa là nguồn gốc, vừa là giải pháp chủ yếu mở đường thoát ra khỏi khủng hoảng, cả ở cấp độ quốc gia, cũng như trên phạm vi thế giới…

Các nguyên nhân và giải pháp đối phó với chu kỳ ngày càng đa dạng hơn, nhưng gắn liền và mang đậm hơn tính chất tài chính – tiền tệ, nhân tố con người và khoa học công nghệ. Các thị trường tài chính ngày càng đóng vai trò động lực, và là tấm gương hội tụ, phản chiếu toàn bộ nhạy cảm, trực tiếp và tập trung nhất đời sống kinh tế vĩ mô cũng như vi mô, quốc gia cũng như quốc tế.

Trong nền kinh tế hiện đại đã xuất hiện cái gọi là “hiệu ứng của cải”. Có tới khoảng 40% tài sản các hộ gia đình và 60% các quỹ trợ cấp trong các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu được đầu tư vào các thị trường chứng khoán. Với những quan hệ dây chuyền phức tạp, một sự đổ vỡ thậm chí từ thị trường của một nước cũng có thể tạo ra chuỗi bùng nổ, đổ vỡ nhanh, mạnh trên diện rộng, lan đến trung tâm thông qua các kênh nợ nần và lưu thông tự do trên thị trường vốn, thị trường hàng hoá và dịch vụ quốc tế. Khi đó, “hiệu ứng của cải” có khả năng biến suy giảm thị trường (chẳng hạn, thị trường bất động sản, thị trường điện tử v.v..) thành suy giảm kinh tế. Đến lượt mình, suy giảm kinh tế làm giảm nhu cầu nhập khẩu và sự bỏ chạy của vốn đầu tư…, đình trệ thị trường, đình trệ đầu tư hoà quyện vào nhau và tạo ra ma sát cực mạnh cản trở sự vận động tiến lên một cách bình thường của cỗ máy kinh tế doanh nghiệp và quốc gia.

Khi xảy ra khủng hoảng, tư bản quốc tế sẽ tự do rút chạy, dồn đến ẩn nấp và tiếp tục hoạt động tại những nơi khả dĩ an toàn hơn, đang có thuận lợi thị trường hơn, cho phép nước tiếp nhận dòng vốn tháo chạy này có những động lực mới cho sự phát triển của mình, nhưng lại làm tăng hậu quả của khủng hoảng tại nơi xảy ra do tư bản đột ngột ra đi kiểu lũ cuốn, tâm lý, tự phát. Nói cách khác, chính sự phát triển vô hạn độ khả năng tích tụ, dồn nén, vận chuyển những năng lực tài chính toàn cầu cho các hoạt động đầu tư kinh doanh quốc gia và quốc tế, trong khi thiếu một cơ chế quốc tế giám sát an toàn cần thiết cho những hoạt động này, lại được khuếch đại thêm bởi nhu cầu thị trường vô cùng linh hoạt, vòng đời sản phẩm rút ngắn hơn và thông tin thị trường chưa được coi trọng phát triển đúng mức, đồng thời chế độ tỷ giá giữa các nước vừa có sự khác biệt nhau, vừa thiếu “chuẩn” điều chỉnh… đã, đang và sẽ ngày càng trở thành đầu mối của những chấn động kinh tế trong xã hội hiện đại và tương lai.

Để chống khủng hoảng, Chính phủ các nước ngày càng tuân theo công thức: một là, mở rộng nhu cầu xã hội thông qua nới lỏng chính sách tài chính – tín dụng; hai là, khai thác thị trường quốc tế; ba là, điều chỉnh chuyển hướng năng lực sản xuất và cơ cấu sản phẩm cung ứng để phù hợp cầu hoặc kích thích lượng cầu mới có khả năng thanh toán cao… Hướng thứ nhất sẽ kéo theo sự gia tăng mạnh các khoản nợ công và tư, sự bấp bênh và nhạy cảm của hệ thống tài chính – tín dụng quốc gia và quốc tế… Hướng thứ hai và hướng thứ ba ngày càng được các nước lựa chọn nhiều hơn. Thành thử, có thể thấy, quốc tế hoá, toàn cầu hoá và tri thức hoá nền kinh tế vừa là hướng phát triển và lối thoát tự nhiên hữu hiệu nhiều triển vọng nhất, vừa là hệ quả trực tiếp của những cố gắng chủ quan tìm kiếm các giải pháp tối ưu chống khủng hoảng chu kỳ kinh tế…

Việc cung cấp và giám sát thông tin đầy đủ, hệ thống, cập nhật, chất lượng cao sẽ không chỉ cho phép cảnh báo sớm những nguy cơ, định hướng lối thoát cho các doanh nghiệp và chính phủ, mà còn có tác dụng ngăn chặn những tác hại của hành vi tự phát vì mù quáng hoặc tính dễ lây lan tâm lý cảm tính đám đông – nhân tố nhạy cảm của chu kỳ hiện đại.

Về toàn cảnh, thế giới tương lai sẽ là một bức tranh không cố định cả về mầu sắc và bố cục. Độ nhạy cảm và phụ thuộc lẫn nhau giữa các vấn đề và sự kiện trong và ngoài nước gia tăng. Biên giới và chủ quyền quốc gia theo nghĩa truyền thống sẽ có thay đổi theo hướng mờ nhạt hơn và ít ý nghĩa về kinh tế trên thực tế hơn. Các định chế khu vực và quốc tế ngày càng ảnh hưởng chi phối chính sách và định hướng sự phát triển của mỗi nước. Các nhân tố văn hoá – xã hội đặc trưng quốc gia ngày càng tạo ra tính cá biệt trong đa dạng về mô thức phát triển. Quá trình phát triển của mỗi quốc gia và khu vực sẽ được đẩy nhanh hơn cùng với những dao động quá độ, thậm chí có bước lùi tạm thời, do những cải cách mạnh ở lĩnh vực này lại chưa đồng bộ với ở lĩnh vực khác; những thành công và cả sự đổ vỡ sẽ gia tăng về qui mô và tốc độ trong môi trường kinh doanh quốc gia và quốc tế vừa đầy tính cạnh tranh, vừa đề cao sự hợp tác. Quá trình cơ cấu lại nhanh và hiệu quả của các doanh nghiệp, các nền kinh tế quốc gia và cả nền kinh tế toàn cầu trên cơ sở các công nghệ mới về chất đang và sẽ là động lực chủ yếu quy định sự phát triển và bộ mặt nền kinh tế quốc gia và kinh tế thế giới tương lai. Ngoài ra, cũng cần thấy rằng, trong bất kỳ cuộc khủng hoảng kinh tế đủ loại nào trên thị trường, thì một cuộc khủng hoảng tài chính bao giờ cũng có tính đặc thù và nguy hại nhất, vì nó khó dự báo chính xác và khó chống đỡ hiệu quả nhất, do chúng thường gắn với những bí mật kinh doanh và hiện tượng đầu cơ, cũng như do các phản ứng mang tính tâm lý, dây chuyền với các động thái cực kỳ phức tạp, nhạy cảm và có gia tốc cực nhanh…

Những cơ hội mới, những thách thức mới đang và sẽ đặt ra ngày càng nhiều và đa dạng hơn cho mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia và toàn thế giới…

2. Tư duy mới về “bàn tay Nhà nước”

Những thập niên sau cuộc Đại khủng hoảng cuối những năm 1920, nước Mỹ trỗi dậy nhờ phất cao ngọn cờ tự do kinh doanh và thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ từ buôn bán vũ khí, quy tụ các dòng vốn đầu tư và dòng thác vàng (70% tổng dự trữ vàng trên toàn thế giới) chảy về Mỹ từ châu Âu lúc đó đang ngập chìm trong khói đạn của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đang bộc lộ những tín hiệu và động thái chưa từng có, đánh dấu bước ngoặt xuống dốc của thời kỳ hoàng kim chủ nghĩa tư bản tự do Mỹ, cũng như vai trò Mỹ – một siêu cường kinh tế và tài chính.

Nếu như sự lạm dụng cho vay dưới chuẩn (được sự dung túng của Chính phủ Mỹ) và sự bùng nổ các công cụ nợ phái sinh trên thị trường tài chính toàn cầu, đã gây ra tình trạng đầu cơ quá mức và mất khả năng thanh toán trên thị trường bất động sản (vượt ra khỏi sự dự báo và kiểm soát của Chính phủ) là căn nguyên trực tiếp, thì chính các thể chế thị trường tự do cao độ, thiên vị các lợi ích cá nhân và cục bộ, nới lỏng kiểm soát ở Mỹ mới là căn nguyên sâu xa và chủ yếu gây ra khủng hoảng và bản thân các thể chế này cũng tỏ ra đang bất lực trước cơn đại hồng thủy… Thật thú vị và trớ trêu, các thể chế nhà nước Mỹ, trong khi hàng trăm năm qua luôn đi đầu cổ súy cho tự do hóa thị trường và tư nhân hóa nền kinh tế, vậy mà bước vào thập niên đầu thế kỷ XXI, đã lại phải áp dụng các biện pháp chống khủng hoảng khẩn cấp (bỏ ra 700 tỉ USD để quốc hữu hoá các ngân hàng và các hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới; thành lập một quỹ đặc biệt để mua lại các thương phiếu do các doanh nghiệp Mỹ phát hành – một loại giấy tờ có giá trị ngắn hạn dưới 270 ngày – và không giới hạn đối với lượng thương phiếu được mua vào; tính đến tháng 8/2008 trên thị trường đã có khoảng 1300 tỷ USD giá trị thương phiếu được lưu hành). Kế hoạch mua lại các thương phiếu này của Mỹ, hoá ra là đã làm theo đúng nguyên lý “chủ động sử dụng bàn tay Nhà nước một cách tích cực” của khoa học kinh tế chính trị mác -xít chính thống, điều mà chính họ đã từng ra sức tuyên truyền và lôi kéo cả thế giới tư bản chủ nghĩa chống lại suốt trong thế kỷ XX vừa qua… Theo gương Mỹ, “liệu pháp bàn tay Nhà nước” lan rộng nhanh chóng đến một loạt nước có nền kinh tế thị trường phát triển (ngày 28/9/2008 Anh đã quốc hữu hóa ngân hàng Bradford & Bingley tốn kém 25 tỷ USD; ngày 29/9/2008 các nước Bỉ, Hà Lan và Luxembourg đã phải cùng nhau quốc hữu hóa bộ phận tài chính của tập đoàn Fortis, ngân hàng lớn nhất Bỉ, ngày 6/10/2008 ngân hàng BNP Parisbas của Pháp đã chính thức tiếp nhận kiểm soát cổ phần của Fortis ở Bỉ và Luxembourg. Thủ tướng nước Đức đã tuyên bố, Đức sẽ không để cho một công ty tài chính nào bị lụn bại, vì sẽ gây ảnh hưởng xấu cho toàn hệ thống, nên Chính phủ Đức và Bundesbank đã phải bỏ ra 50 tỷ euro để cứu nguy cho Hypo Real Estate, một tổ chức cho vay thương mại lớn thứ hai ở Đức chuyên cho vay trong lĩnh vực bất động sản, khỏi phá sản. Chính phủ Iceland cũng đã chi 600 triệu euro để kiểm soát cổ phần của Glitnir Bank của nước này để tránh một sự phá sản dây chuyền. Nhật Bản cũng sẵn sàng chi hàng trăm tỷ USD để hỗ trợ ổn định hệ thống thị trường tài chính trong nước…) Một loạt các cuộc họp, gặp gỡ cấp cao đa phương khu vực và toàn cầu liên tiếp diễn ra với chủ đề hội tụ duy nhất là làm thế nào để phối hợp các nỗ lực chung ở cấp quốc gia, nhằm ngăn chặn sự lan tỏa và sớm thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ chưa có tiền lệ này (ngày 4/10/2008, lãnh đạo cấp cao 4 nước Anh, Đức, Pháp và Italia đã gặp nhau tại Paris theo đề xuất của Tổng thống Pháp và đã đồng ý ký một hiệp ước chính thức để hỗ trợ cho ngân hàng của mỗi nước; ngày 7/10/2008 Bộ trường Tài chính 27 nước EU phải ngồi lại với nhau bàn cách đối phó với khủng hoảng và đã đi đến thống nhất là cần thiết phải dùng sức mạnh và bàn tay Nhà nước để cứu thị trường tài chính, giảm lãi suất, nâng mức bảo hiểm tiền gửi ngân hàng, “linh hoạt hóa” quy định kế toán, buộc các ngân hàng và các công ty bảo hiểm phải định giá lại thường xuyên tài sản theo giá thị trường… Các chính phủ châu á cũng đã thống nhất thành lập Quỹ cứu trợ khủng hoảng châu á chung trị giá 80 tỷ USD để hỗ trợ các nước thành viên trong trường hợp có tai biến xảy ra…)

Thực tế đã, đang và còn cho thấy sức mạnh mù quáng khó lường của thị trường khi thiếu hoặc chậm sử dụng “bàn tay Nhà nước” mạnh. Với nhiều lý do khác nhau, Quốc hội Mỹ đã “tiếc” và chậm thông qua gói giải pháp trị giá 700 tỉ USD, khiến chỉ trong vòng vài chục giờ đồng hồ sau quyết định đó, nước Mỹ đã mất 1.500 tỉ USD do sụt giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán – một sự kiện chưa từng có trong lịch sử hiện đại của nước Mỹ. Nước Mỹ không chỉ đang rơi vào tình trạng phá sản tài chính với các khoản nợ dễ dãi, thiếu kiểm soát, từ lâu đã vượt quá giá trị tài sản hiện có, mà còn mất đi vị thế tư tưởng lớn nhất thế giới trong lịch sử hiện đại (mà nước Mỹ thì không có lịch sử khác). Định kiến về nước Mỹ như một pháo đài tài chính bất khả xâm phạm chủ yếu của hệ thống tài chính quốc tế, với tư tưởng “tự do và dân chủ” bảo đảm cho sự ổn định trong tiến trình phát triển của thế giới, dường như đang lay động tận gốc; đặc biệt, giá trị và sức hấp dẫn của “mô hình Mỹ” đã, đang và sẽ ngày càng nhạt nhòa … Dù vẫn chưa có đối trọng chính trị nào đủ sức làm nước Mỹ sụp đổ, nhưng việc buộc phải chuyển sang một chu kỳ mới của chính trị – kinh tế Mỹ và thế giới tư bản là điều không thể tránh khỏi. Bộ trưởng tài chính Đức khẳng định trước Quốc hội nước này: “Thế giới sẽ không thể trở lại thời điểm lúc trước khủng hoảng tài chính Phố Wall… Mỹ sẽ mất vị thế cường quốc trong hệ thống tài chính thế giới. Hệ thống tài chính thế giới sẽ trở nên đa cực”. Tổng thống Pháp Sarkozy thẳng thừng chỉ trích sự đơn giản thái quá của chủ nghĩa “tân cổ điển”, với tư duy “thị trường sẽ tự điều tiết tất cả”, “nền kinh tế thị trường tự điều chỉnh mọi vấn đề”, “thị trường luôn có lý”, “kinh tế có sức mạnh tự điều tiết” … Thậm chí, Giám đốc Viện Kinh tế quốc tế Peterson, ông C.Fred Bergsten cho rằng “với các định chế mà chúng ta có hiện nay, không một định chế nào có đủ lực để thực hiện những giải pháp toàn cầu”. Ngay các tổ chức IMF hay WB trước đây thường đóng vai trò trung tâm trong cuộc giải quyết khủng hoảng tài chính ở châu á, thì nay cũng không còn có được vai trò như thế đối với khủng hoảng tài chính ở Mỹ (mặc dầu cuối tháng 10/2008 IMF cũng đã thông qua quỹ 100 tỷ USD sẵn sàng cứu trợ các nước đang phát triển châu á, Phi, Mỹ La tinh phòng chống khủng hoảng lan rộng từ Mỹ). Bản thân Liên hợp quốc cũng đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động trước nhiều bất cập mà không thể tự mình vượt qua. Nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia phát triển trên thế giới ngày càng tìm thấy tiếng nói chung, cùng nhấn mạnh giải pháp căn bản cho cuộc khủng hoảng hiện nay là phải “tìm ra được một sự cân bằng mới giữa vai trò của Nhà nước và thị trường”. Tư duy mới về “bàn tay của Nhà nước” trong một thế giới đang biến đổi ngày càng đậm nét dần…

Thế giới đang bước vào thời đại kinh tế mới, kinh tế thị trường có điều tiết thích hợp của chính phủ. Trong đó, sẽ có yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết nhà nước, kiểm soát các thể chế thị trường, thắt chặt cho vay tín dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch, phát triển các công cụ dự báo, cảnh báo và trừng phạt các sai trái và gian lận…

Tư duy mới về “bàn tay Nhà nước” đang và sẽ ngày càng trở nên rõ nét, bao quát và chi phối toàn diện các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội quốc gia và quốc tế, với các biểu hiện và yêu cầu chủ yếu sau:

1. Không duy ý chí, giáo điều, cực đoan, hoặc quá nhấn mạnh và tuyệt đối hóa vai trò chỉ huy tập trung, mang tính áp đặt một chiều của Nhà nước, hoặc thả nổi hoàn toàn và đặt toàn bộ quá trình phát triển kinh tế theo sự dẫn dắt có tính đầu cơ, mù quáng, “bầy đàn” cao của các tín hiệu và sức mạnh thị trường tự do, nhấn mạnh lợi ích tư nhân, cục bộ và ngắn hạn… Nói cách khác, cần phải dùng cả hai “bàn tay”: Nhà nước và Thị trường. Vấn đề then chốt cho một nền kinh tế thành công là mô hình phát triển được lựa chọn phải phù hợp cả với bối cảnh quốc tế, lẫn các điều kiện lịch sử cụ thể trong nước, cho phép khai mở, cộng hưởng cao nhất các tiềm năng và hiệu quả các nguồn lực phát triển trong và ngoài nước, tham gia sớm, ngày càng chặt chẽ và hiệu quả vào “chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu”… Đặc biệt, sự phát triển các tiềm năng và tự do cá nhân; sự hợp tác và thịnh vượng về kinh tế; sự đồng thuận, dân chủ và gắn kết về xã hội trong một thế giới ngày càng “phẳng”, hòa hợp và thân thiện hơn với môi trường đang và sẽ ngày càng được coi là 3 trụ cột hợp thành chủ yếu, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của văn minh nhân loại đương đại.

2. Chủ động tham khảo2, đan xen và phối hợp chính sách giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực, cũng như toàn cầu với mức tăng tiến cùng chiều với sự gia tăng khối lượng trao đổi quốc tế song phương và đa phương, trước hết trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, dịch vụ và lao động; coi trọng các yêu cầu và thúc đẩy hoàn thiện các định chế quốc gia và quốc tế quản lý các quá trình phối hợp và trao đổi đó, để gia tăng sức mạnh, khả năng và hiệu quả giải quyết các vấn đề quốc gia, khu vực và toàn cầu. Đã qua rồi thời mà mỗi nước đóng cửa để tự giải quyết những vấn đề phát triển của mình, dù đó là vấn đề nhỏ nhất và nước đó là lớn, mạnh nhất thế giới.

3. Vai trò đầu tư trực tiếp, cũng như là trụ cột phát triển của Nhà nước ngày càng giảm hoặc được định hướng hỗ trợ phát triển đầu tư tư nhân, song Nhà nước có vai trò ngày càng to lớn trong cuộc chiến với các chấn động cơ cấu hoặc chu kỳ kinh tế bột phát, nhất là khủng hoảng tài chính – ngân hàng, dù nó xảy ra ở trong nước hay nước ngoài, nguyên nhân không trực tiếp từ sai lầm của Chính phủ hoặc trong khu vực kinh tế nhà nước. Đồng thời, vai trò của công tác thông tin, dự báo và giám sát, cảnh báo an toàn, nhất là an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng, là hết sức quan trọng và không thể coi nhẹ trong bất luận trường hợp nào và vào thời điểm nào … Ngoài ra, cần luôn tỉnh táo với các tác động lan tỏa, dây chuyền có tính hai mặt của các biến cố và chính sách kinh tế trên thị trường trong nước và quốc tế. Cần dập ngòi khủng hoảng từ khi nó còn nhen nhúm, thay vì khi nó đã thành đám cháy mạnh và lan rộng, thì chi phí là khó đo lường, nhất là với một nước còn nghèo và các thiết chế thị trường còn chưa phát triển, hoàn thiện.

4. “Bàn tay” điều chỉnh của Nhà nước cần chuyển dịch theo hướng giảm can thiệp hành chính, trực tiếp, để chuyển sang phương thức can thiệp gián tiếp, có tính định hướng và giám sát nhiều hơn, vừa tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường, vừa không làm xấu đi sự ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi ích trong quá trình phát triển, nhất là không lạm dụng sức chịu đựng và đổ gánh nặng khủng hoảng lên người dân, người tiêu dùng. Tăng cường vai trò các loại quỹ bình ổn thị trường và sử dụng linh hoạt các công cụ nợ, biến nợ xấu thành chứng khoán có thể mua – bán trên thị trường nợ là một trong các lựa chọn cần thiết và hiệu quả.

Tóm lại, thế giới mới đang định hình, đòi hỏi tư duy mới thích ứng về bàn tay quản lý của Nhà nước trong khi thực hiện các nguyên tắc kinh tế thị trường, tránh các thái cực cực đoan, phiến diện trong nhận thức, tăng cường sự phối hợp đồng bộ các công cụ và cấp độ quản lý, giám sát chặt chẽ và chủ động xử trí kịp thời các các tác động mặt trái của chính sách lựa chọn trong thực tiễn bằng hợp lực của sức mạnh tổ chức và tài chính trong và ngoài nước, với vai trò trung tâm là Nhà nước.

3. “Bàn tay Nhà nước” ở Việt Nam

Quá trình Đổi mới nói chung, và sử dụng “bàn tay Nhà nước” trong quản lý phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam nói riêng, dù muốn hay không, ít hoặc nhiều, trực tiếp và gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng của những xu hướng phát triển và tư duy mới về vai trò Nhà nước mang tính toàn cầu chung … Thực tế cho thấy, “bàn tay Nhà nước” Việt Nam về cơ bản đã đón nhận và bắt nhịp được với các xu thế chung của thế giới, nhờ đó đã góp phần chèo lái đúng hướng và vững vàng con thuyền kinh tế Việt Nam vượt bao thác ghềnh, khó khăn và thách thức to lớn, chưa có tiền lệ trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, để ngày càng củng cố thế và lực trên hành trình vươn ra đại dương, hội nhập cùng bạn bè năm châu, bốn biển …

 “Bàn tay Nhà nước” Việt Nam thường bộc lộ tập trung và có thêm cơ hội hoàn thiện hơn khi xảy ra các chấn động kinh tế – tài chính mạnh trong và ngoài nước, như những năm 1986-1992, 1997-2000 và những năm 2007-2008. Khi đó, Việt Nam đã phát huy sức mạnh tích cực của toàn bộ hệ thống chính trị để xử lý các nguyên nhân và hậu quả của lạm phát cao hoặc các biến cố thị trường bộc phát, giữ vững sự ổn định chung của đời sống kinh tế xã hội đất nước. Đặc biệt, lần đầu tiên, năm 2008 Chính phủ đã dũng cảm nhận thức lại mục tiêu và yêu cầu quản lý Nhà nước khi chủ động khẳng định ưu tiên trước mắt là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, kể cả phải giảm bớt tốc độ tăng trưởng GDP… và từ đó, đã có sự chỉ đạo tập trung, nhất quán hơn và sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các c?p, ngành và ð?a phuong, sử dụng đồng bộ và linh hoạt hơn các giải pháp hành chính và thị trường theo hu? ng toàn di? n. Nhờ vậy, từ nửa cuối năm 2008, áp lực lạm phát, thâm hụt thương mại và thanh toán đã có dấu hiệu giảm bớt, dự trữ ngoại tệ được bảo tồn và tăng thêm, thị trường nội tệ và ngoại tệ đã có sự ổn định trở lại, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản có sự phục hồi dần, sự mở rộng các mặt hàng xuất khẩu là rất ấn tượng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp) rất khả quan.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, cả về nhận thức, chính sách, thể chế và phương thức tổ chức hoạt động của “bàn tay Nhà nước” ở Việt Nam vẫn còn một số bất cập do sự đan xen giữa cái mới chưa được luận giải, khẳng định và hình thành đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, với cái cái cũ vẫn đang tồn tại, hoặc chưa được đổi mới kịp thời, thích hợp. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế chưa thật rõ ràng, chậm đổi mới. Nội dung, phương thức, mức độ quản lý nhà nước đối với các khu vực kinh tế còn chưa thống nhất và chưa thật hiệu quả; còn nhiều bất cập trong phân cấp và phối hợp quản lý Nhà nước. Việc tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh của doanh nghiệp còn chậm. Một số chủ trương, chính sách chưa được thể chế hóa bằng các kế hoạch, cơ chế, trách nhiệm triển khai cụ thể, kịp thời, hiệu quả. Công tác thông tin, dự báo kinh tế và quản lý chất lượng phát triển theo hướng bền vững còn lúng túng và bị buông lỏng. Nhiều tiềm năng và nguồn lực cần thiết cho phát triển còn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả…

Để nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta, vượt qua các cuộc khủng hoảng trong một thế giới đang biến đổi toàn diện và nhanh chóng, liệu pháp “bàn tay Nhà nước” ở Việt Nam cần được hoàn thiện theo một số phương hướng và nội dung trọng tâm sau:

1. Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về một số vấn đề lớn và mới trong chủ trương phát triển và quản lý Nhà nước.

Nhận thức là một quá trình, cần dũng cảm gạt bỏ những định kiến, ảo tưởng về quyền lực Nhà nước và sự lạm dụng cơ chế xin – cho, những lợi ích cục bộ, ngắn hạn của “tư duy nhiệm kỳ”; tôn trọng các sáng tạo, đề xuất hợp lý của cơ sở, cấp dưới; xây dựng và thống nhất hệ giá trị chuẩn chung quốc gia, cả về chính trị, kinh tế, xã hội, đảm bảo tất cả chính sách, tất cả những gì chúng ta phân biệt đúng – sai phải theo chuẩn mực chung, tránh bị ngộ nhận hoặc bị nhiễu về chân giá trị (với các hợp phần tinh tú nhất từ các giá trị nhân văn to lớn của lý tưởng xã hội chủ nghĩa, của giá trị ngàn năm văn hiến của dân tộc và của nhân loại, cũng như của các giá trị thị trường…), tạo đích và thước đo tin cậy trong định hướng, đánh giá các hoạt động kinh tế – xã hội, để tăng cường lòng tin và sự đồng thuận xã hội rộng rãi trong nước và quốc tế, kể cả với Việt kiều.

Đồng thời, đổi mới căn bản công tác cán bộ và coi trọng đúng mức việc xây dựng các thiết chế đủ hiệu lực bảo vệ lợi ích và phát huy sức mạnh chung quốc gia, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của quốc gia, của các địa phương, trong nước và quốc tế cho phát triển bền vững đất nước.

Đặc biệt, một chính sách tài chính -tiền tệ thận trọng (không quá lỏng, không quá chặt) luôn là cần thiết trong thực tế Việt Nam; tiếp tục h?n ch? và nâng cao hiệu quả đầu tư công, đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước; chủ động tiếp cận, tham gia, duy trì, khai thác sử dụng đúng lúc và hiệu quả các cơ chế giám sát an toàn tài chính quốc gia, khu vực và quốc tế; chuyển mạnh chính sách bảo hộ theo hướng khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, theo cả phương thức tuần tự, cũng như theo các cách thức mới, nhẩy vọt, rút ngắn; khuyến khích phát triển các tập đoàn kinh tế đa sở hữu, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, hoạt động xuyên quốc gia, tạo nguồn động lực mạnh và đột phá trong quá trình phát triển và hội nhập.

2. Tôn trọng yêu cầu khách quan của các quy luật và quy trình quản lý kinh tế, các cam kết hội nhập và sự hài hoà các lợi ích phát triển, không ngừng cải thiện môi trường kinh doanh.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng và quản lý theo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tõ – x héi và đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội có tính mở và thực tiễn cao, coi trọng các chỉ tiêu chất lượng, “phủ sóng” bao quát đầy đủ hơn các nguồn vốn, các địa phương và lĩnh vực, vừa đảm bảo tính tập trung thống nhất, vừa kích thích tính chủ động, sáng tạo và phản ứng thị trường kịp thời của địa phương và cơ sở; xác định rõ địa chỉ các tổ chức và cá nhân, trách nhiệm, thời gian và nguồn lực, cùng kế hoạch tài chính, với sự bảo đảm và hỗ trợ về chính trị – hành chính cần thiết trong thực hiện các quy hoạch…

Xúc tiến nhanh hơn, triệt để hơn việc tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh, chức năng hành chính với chức năng dịch vụ công, xây dựng một nền hành chính hiện đại, hiệu quả và minh bạch, phân định và làm rõ các quy chế pháp lý khác nhau đối với các loại cơ quan, phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của sở, ban, ngành, phối hợp với các bộ liên quan, tránh tình trạng quản lý chồng chéo, giảm bớt quyền, làm rõ trách nhiệm, tăng cường giám sát và đánh giá công việc của cơ quan và công chức Nhà nước từ trung ương đến địa phương, nhất là quyền “thẩm định”, “phê duyệt”, “chấp thuận”, quyền cho phép và cấp phép… chuyển sang hướng dẫn, kiểm tra việc thực thi pháp luật;

Tăng cường phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, đảm bảo các chính sách kinh tế – xã hội vừa thống nhất, vừa đa dạng hoá (không đơn nhất, đồng loạt cho các đối tượng, vùng khác nhau), vừa có tính lịch sử trong ổn định và có thể dự báo được; tăng cường cải cách hành chính từ trên xuống theo yêu cầu thực tế và nhiệm vụ quản lý nhà nước, phù hợp cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi và lòng tin cậy cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cả trên thị trường trong nước và quốc tế; rà soát bãi bỏ hoặc cải cách thủ tục hành chính được theo hướng đơn giản, nhanh gọn và phổ cập rộng rãi mô hình“một cửa, một đầu mối” ở tất cả các cơ quan quản lý; đẩy mạnh việc tinh giảm các bộ phận phòng, ban trong bộ máy quản lý chính quyền các cấp; phân công phân cấp và xác định trách nhiệm rõ ràng cho cấp cơ sở; khuyến khích và thúc đẩy các cấp chính quyền năng động, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, khắc phục tình trạng lười nghĩ, làm bừa, ngại và thiếu trách nhiệm, ngại khó, né tránh và lạm dụng, không tập trung giải quyết triệt để những vụ việc nổi cộm, bức xúc ngay từ khi mới phát sinh ở cơ sở. Ngoài ra, cần đổi mới căn bản hệ thống định mức, chế độ chi tiêu quản lý tài chính hướng đến kết quả đầu ra, đề cao trách nhiệm và tự chủ của đơn vị và cá nhân liên quan (với những chế tài vật chất và hành chính đủ sức mạnh răn đe đi kèm), chống tình trạng áp dụng máy móc gây khó khăn cho thực hiện và cả quản lý, hoặc làm tăng tình trạng nói dối, biến báo “hợp lý hóa”, kẽ hở cho phát sinh tham nhũng, thất thoát và đầu tư kém hiệu quả.

Xây dựng, phát triển đồng bộ các thị trường và các thể chế hỗ trợ thị trường và quản lý Nhà nước, quán triệt ngày càng đầy đủ các nguyên tắc kinh tế thị trường trong quản lý và tổ chức các hoạt động kinh tế. Nhà nước cần quan tâm và tạo mọi thuận lợi cho phát triển đồng bộ các thị trường, nhất là các thể chế thị trường bậc cao (như thị trường chứng khoán, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản và thị trường lao động có tổ chức), đảm bảo hoạt động nhịp nhàng và gắn kết giữa các loại thị trường trên địa bàn, giữa thị trường địa phương với hệ thống thị trường cả nước và quốc tế…, đồng thời, đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các thể chế hỗ trợ thị trường, phát triển và tăng cường vai trò các hiệp hội ngành nghề, câu lạc bộ, các loại quỹ, các trung tâm và tổ chức phi chính phủ khác, tạo điều kiện để các hiệp hội, các doanh nghiệp được đóng góp ý kiến khi xây dựng, ban hành các quy định quản lý Nhà nước. Xây dựng hệ thống tiêu thức và phát triển các dịch vụ đánh giá xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, đánh giá và cảnh báo khủng hoảng phục vụ quản lý Nhà nước và kinh doanh; thúc đẩy tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp và các hoạt động liên kết, hợp tác kinh tế trong và giữa các ngành, các khu vực doanh nghiệp, cũng như giữa các địa phương, tỉnh thành trong nước, hình thành các công ty cổ phần, tập đoàn đa sở hữu có quy mô lớn, công nghệ cao, tài chính mạnh, hình thức và phương thức tổ chức, quản lý hiện đại, đáp ứng đòi hỏi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt; phát triển hệ thống các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ khoa học công nghệ … để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Tuân thủ đúng quy trình quản lý Nhà nước về giá theo nguyên tắc thị trường nhằm bảo đảm cạnh tranh thị trường lành mạnh, ngăn chặn các hành vi lạm dụng và độc quyền, đầu cơ, bán phá giá và các gian lận thương mại khác; tránh các sai lầm, như: thả nổi hoàn toàn giá cả thị trường trong nước theo thủy triều giá cả thị trường thế giới, hoặc điều chỉnh giá trong nước theo lộ trình kế hoạch cứng nhắc; chỉ điều chỉnh giá tăng một chiều, chậm hoặc không điều chỉnh khi giá giảm; chỉ quan tâm tăng giá hàng và dịch vụ thông thường, không có sự điều chỉnh tỷ giá bản tệ thích ứng; tách rời mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong khi điều chỉnh. Đặc biệt, cần tuân thủ quy trình và nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường là phải cho cạnh tranh thị trường đầy đủ trong cung ứng hàng hóa, dịch vụ trước khi cho phép các doanh nghiệp được định giá theo thị trường (nếu chỉ trả giá cả về cho thị trường, mà không trả sự cạnh tranh cần thiết về cho thị trường trong việc hình thành giá cả là tạo cơ hội vàng mang lại lợi ích độc quyền kép cho các doanh nghiệp đang hoặc gần như độc quyền); cần tăng phạt hành chính những vi phạm về giá cả, chống đầu cơ và lũng đoạn, chống lobby mang tính chất ngành và doanh nghiệp tạo ra sự lệch hướng hay thiếu thống nhất về chính sách của Chính phủ và gây thiệt hại chung cho xã hội. Trước mắt, cần nâng cao năng lực và hiệu quả thực tế của công tác giám sát, kiểm soát và xử lý sự độc quyền và các vi phạm về giá từ phía các doanh nghiệp và các bên có liên quan, ngăn chặn hiện tượng lạm dụng trục lợi cá nhân, thậm chí biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, phường hội và phe nhóm…

Thực hiện nghiêm việc đấu thầu thực chất các dự án, đặc biệt là dự án được tài trợ bằng các nguồn lực công, cũng như các hoạt động mua sắm chi từ nguồn đầu tư công với sự tham gia rộng rãi, bình đẳng của các khu vực doanh nghiệp, chứ không phải chỉ khép kín trong khu vực Nhà nước.

Chú ý đến liều lượng, thời lượng, chính sách bổ trợ khi xây dựng và thực thi những giải pháp đã, đang và sẽ triển khai để phát huy mặt tích cực, giảm tiêu cực của các chính sách được lựa chọn.

Coi trọng hơn nữa việc chống tham nhũng v trng dụng người tài. Nhà nước cần xây dựng một cơ chế chống tham nhũng thực chất hơn, dân chủ hơn, kiên quyết và hiệu quả hơn. Đặc biệt, phải coi chống tham nhũng trong công tác cán bộ như một đột phá mới của cải cách hành chính.

3. Coi trọng công tác dự báo, thông tin, phản biện chính sách trong quản lý nhà nước.

Dự báo tốt giúp các cơ quan quản lý nhà nước chủ động hơn và nâng cao hiệu quả điều hành thực tiễn. Cần coi trọng đúng mức và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo khách quan với mục tiêu chính sách và ý chí chủ quan. Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh báo cần thiết về các xu hướng phát triển mới, các nguy cơ tiềm ẩn, các biến động thị trường khách quan trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần coi trọng dự báo, phản biện xã hội và đánh giá khách quan tác động hai mặt của chính sách đang và sẽ áp dụng, do các tổ chức chuyên nghiệp và độc lập thực hiện, theo đặt hàng của cấp có thẩm quyền, nhằm giảm thiểu những tổn hại (từ lạm dụng kẽ hở chính sách hoặc gây cản trở và phát sinh các chi phí không cần thiết, lãng phí các nguồn lực xã hội…) do kéo dài chính sách đã trở nên bất cập trước những biến chuyển mau lẹ của thực tiễn.

Ngoài ra, cần coi trọng việc xây dựng hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành trực tiếp phục vụ công tác dự báo kinh tế, đảm bảo tính chuyên nghiệp và sự phối hợp ăn khớp cần có giữa các cơ quan chức năng và các loại công cụ dự báo, giữa công tác dự báo với công tác tổ chức thực hiện, cũng như cần coi trọng đúng mức sự tương tác qua lại giữa khoa học dự báo với những đặc điểm luật pháp và kinh tế – xã hội của đất nước. Tăng cường số lượng và chất lượng thông tin và phát ngôn chính thức Nhà nước, thông tin của doanh nghiệp, định kỳ và không định kỳ, khớp nối, liên thông với hệ thống các chỉ số thống kê quốc gia hàng năm. Thông tin phải minh bạch, đa dạng hơn, nhiều chiều, dân chủ; khắc phục tình trạng các thông tin kinh tế thường bị phân tán, chia cắt, rời rạc, đóng băng và thiếu chuẩn hoá thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý, nhất là không được phổ biến rộng rãi, công khai, gây khó khăn và đắt đỏ cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu tiếp cận, khai thác và sử dụng các thông tin này, cũng như tạo ra những cơ hội thu lợi bất chính cho các tổ chức và cá nhân quản lý các thông tin đó, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế và gia tăng sự lãng phí các nguồn lực xã hội.

Với tinh thần đó, Nhà nước cần sớm thúc đẩy việc thành lập bổ sung và phát triển mạng lưới các cơ quan có chức năng chuyên trách xây dựng, phản biện và đề xuất hoàn thiện các chiến lược và chính sách quản lý Nhà nước các cấp từ trung ương xuống các địa phương (bao gồm các Viện, Trung tâm, Phòng, Ban Chính sách và Dự báo kinh tế), đồng thời, bổ sung chức năng này cho các Sở tham mưu tổng hợp cho chính quyền cấp tỉnh, thành phố. Xây dựng hệ thống thông tin và dữ liệu kinh tế các cấp (bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, bộ máy tổ chức và kinh phí thường xuyên), cũng như cơ chế khai thác tài nguyên thông tin quốc gia nêu trên. Cần nhấn mạnh rằng, các chi phí cho hoạt động của các tổ chức và hoạt động này là đầu tư phát triển và rẻ hơn nhiều so với lợi ích mà chúng có thể đem lại nếu được tổ chức tốt và có cơ chế cán bộ, vận hành phù hợp với tính đặc thù của nhiệm vụ được giao.

4. Đảm bảo sự gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với quan tâm phát triển văn hóa, giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội – môi trường, nâng cao chất lượng và yêu cầu phát triển bền vững.

Nhà nước cần quan tâm bảo đảm hài hoà các lợi ích trong quá trình phát triển, giảm thiểu cách biệt giữa các tầng lớp xã hội, các vùng và lĩnh vực; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các hoạt động đảm bảo xã hội có tổ chức công bằng và hiệu quả; nâng cao văn hoá quản lý và văn hóa kinh doanh…

Thế giới đang và sẽ biến đổi ngày càng nhanh chóng, ai biết trước được các xu hướng phát triển của tương lai và thích ứng hiệu quả với chúng thì người đó sẽ chiến thắng.

 NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 1/2009

Advertisements