TS. PHẠM THỊ GIANG THU & ThS. NGUYỄN MINH HẰNG

Từ 1987 cho đến nay, hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng có sự chuyển đổi nhanh chóng, thể hiện rõ nét tại hệ thống các qui định pháp luật qui định về chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam, mục tiêu, nội dung và phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Những qui định cụ thể tại Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước 1990, Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 đã cho thấy điều đó. bank1

            Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ, phương thức và nội dung quản lý, điều hành thị trường đặt ra yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung cơ sở pháp lý để thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Giải quyết vấn đề này, Quốc hội quyết định sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 25/2/2008, với tư cách cơ quan chủ trì soạn thảo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã giới thiệu Dự án Luật Ngân hàng Nhà nước. Nghiên cứu Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chúng tôi có một số ý kiến trao đối sau đây với mong muốn góp phần có được Luật Ngân hàng Nhà nước phù hợp cam kết quốc tế, hiệu quả, khả thi.

Thứ nhất, về tên gọi của Luật

            Tên gọi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua ngoài những ưu điểm và nhiệm vụ chính trị mà nó đã đảm nhiệm, đã nảy sinh những vấn đề cần phải được giải quyết phù hợp với tình hình mới. Giai đoạn hiện nay, tên gọi Ngân hàng Nhà nước không phản ánh được bản chất ngân hàng trung ương của mô hình này đồng thời gây ra sự nhầm lẫn giữa ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại nhà nước. Vì vậy, chúng tôi cho rằng nên trả lại tên gọi ban đầu của mô hình ngân hàng này, đó là “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” và tên của luật là Luật Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.

            Có ý kiến cho rằng nếu đổi tên Ngân hàng Nhà nước sẽ khó khăn vì người dân đã quen với tên gọi này. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng nếu đổi tên thành Ngân hàng Việt Nam, sẽ khó khăn về chi phí cho việc đổi biển cơ quan, thay đổi các loại giấy tờ liên quan đến mẫu có tên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện hành; quan trọng hơn là liên quan đến việc thay thế tiền mặt trong lưu thông bằng tiền mặt có tên ngân hàng phát hành mới “Ngân hàng Quốc gia Việt Nam”. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét những lý do nêu trên ở khía cạnh khác. Tên gọi “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” không phải là tên gọi đầu tiên của mô hình ngân hàng đặc biệt này. Ngày 6.5.1951, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh 15/SL thành lập “Ngân hàng quốc gia Việt Nam”. Mặc dù Sắc lệnh 15/SL được ban hành đã gần 60 năm, nhưng nếu xem xét thì nội dung của Sắc lệnh đã thể hiện rõ vị trí pháp lý, chức năng của Ngân hàng Nhà nước hiện nay: đó là ngân hàng quốc gia, thực hiện nhiệm vụ quản lý tiền tệ, tín dụng và ngân hàng. Về chi phí liên quan đến việc chuyển đổi tên gọi của Ngân hàng, chúng tôi cho rằng cũng không vượt quá chi phí liên quan đến việc xác định lại chức năng nhiệm vụ của các cơ quan của Chính phủ hiện nay như Bộ Văn hoá-Du lịch-Thể thao; Bộ Thông tin; Bộ Công Thương… Đối với chi phí liên quan đến việc thay thế tiền mặt đang lưu hành với tên gọi của cơ quan phát hành là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cũng có thể định lượng được. Một mặt chúng ta cho lưu thông lượng tiền giấy mới, đồng thời cho phép tiếp tục công nhận giá trị của các loại tiền đang lưu hành. Ngân hàng Việt Nam sẽ tiến hành thu hồi lượng tiền cũ mà không làm tổn hại đến giá trị của chúng. Về vấn đề này, chúng ta cũng có thể xem xét đến thực tế thu hồi lượng tiền cotton mệnh giá 50 000đ và 100 000đ trong thời gian qua.

Thứ hai, về những vấn đề chung

            Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước gồm 8 Chương, 72 Điều, đã thể hiện về cơ bản những nội dung cần điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng và nhiệm vụ của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Dự thảo cần gia cố thêm một số vấn đề sau, để đảm bảo tính tổng thể và yêu cầu đặt ra cho một văn bản luật trong điều kiện hiện nay.

            Về đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh của Luật. Trong 1 văn bản luật, cần chỉ ra được “thần thái” của văn bản. Nói khác đi, cho dù bằng cách biểu đạt nào, Luật Ngân hàng Nhà nước cần xác định rõ phạm vi điều chỉnh. Dự thảo Luật chưa thể hiện được yêu cầu này (chưa có qui đinh về phạm vi điều chỉnh). Về phương thức tiếp cận có thể thực hiện theo 2 cách:

            – Ghi nhận tại 1 Điều của Luật (thường được ghi nhận tại những Điều đầu tiên của loại văn bản này)

            – Thể hiện tại Lời nói đầu của văn bản Luật

            Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 đã ghi nhận phạm vi điều chỉnh, mục tiêu của Luật tại Lời nói đầu. Chúng tôi thiết nghĩ, nếu như quan điểm cho rằng xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước trên cơ sở sửa đổi Luật cũ, có thể giữ lại và chỉnh sửa phần lời nói đầu của Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 mà không thể bỏ đi nội dung quan trọng này. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật các tổ chức tín dụng được giới thiệu cùng thời điểm cũng qui định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật này tại Điều 1 của Dự thảo. Vì vậy, việc bổ sung thêm Điều luật về phạm vi điều chỉnh sẽ tạo sự thống nhất và tương đồng giữa hai văn bản cùng điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng.

            Qui định về thi đua khen thưởng. Trước đây, khi chưa có Luật thi đua khen thưởng, các văn bản Luật thường qui định về khen thưởng, kỷ luật. Hiện nay, những qui định liên quan đến thi đua khen thưởng, hình thức, mức độ khen thưởng đều đã được qui định rõ tại Luật thi đua khen thưởng nên những Luật được ban hành trong thời gian gần đây đều không qui định về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi cho rằng không nên qui định về thi đua khen thưởng trong Luật Ngân hàng Nhà nước (Điều 67 Dự thảo Luật).

            Nội dung các Điều luật còn quá khái quát, không đảm bảo yêu cầu đặt ra cho việc áp dụng. Một văn bản pháp luật chỉ đạt được yêu cầu khi có phạm vi điều chỉnh rõ ràng, nội dung điều luật chi tiết và phải rõ ràng, giảm thiểu những qui định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản pháp luật khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những qui định chung. Yêu cầu về sự rõ ràng, đầy đủ được đặt ra ngay từ quá trình soạn thảo, ban hành Luật cho đến khi luật đó đi vào đời sống pháp lý. Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước còn nhiều nội dung quá khái quát, cần phải được qui định chi tiết (và hoàn toàn có thể qui định chi tiết) ngay trong Luật. Có quan điểm cho rằng việc qui định mang tính chất khái quát hoặc định hướng sẽ đảm bảo cho tính ổn định của văn bản Luật và nó là đặc điểm chung của hệ thống pháp luật của các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam. Thiết nghĩ nếu để cho văn bản Luật ổn định và các biện pháp điều hành cụ thể được thực hiện trên cơ sở các văn bản dưới Luật là biểu hiện dễ thấy nhất của sự vi phạm nguyên tắc pháp chế trong quá trính áp dụng và thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, cách làm Luật này cũng gián tiếp đẩy vai trò của Quốc hội ra ngoài hoạt động của bộ máy nhà nước, Quốc hội không thực hiện được nhiệm vụ làm luật và giám sát thực thi pháp luật của mình. Thêm nữa, hoạt động ngân hàng và hệ thống pháp luật ngân hàng đã hình thành trong khoảng thời gian dài, được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau. Nhà làm luật hoàn toàn có thể tổng kết, đánh giá và ghi nhận trong văn bản Luật.

            Một số thuật ngữ chưa được làm rõ hoặc chưa đầy đủ. Hoạt động ngân hàng có nhiều nội dung đặc thù, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ thực hiện bởi Ngân hàng Nhà nước, vì vậy cần thống nhất cách hiểu và quan điểm chỉ đạo giữa các ban ngành thông qua trước hết ở cách hiểu về từ ngữ được qui định trong Luật. Tuy nhiên, nhiều thuật ngữ được sử dụng trong Dự thảo chưa được làm rõ hoặc chưa thật sự chính xác. Chẳng hạn như thuật ngữ về kiểm soát đặc biệt, tiền tệ, dự trữ bắt buộc, ngoại hối, tỷ giá hối đoái, dự trữ quốc tế… Bên cạnh đó, nếu chấp nhận sử dụng một số thuật ngữ mới trong Luật Ngân hàng Nhà nước, cần phải bổ sung vào phần giải thích từ ngữ. Chẳng hạn như thuật ngữ: dịch vụ tiền tệ, tình trạng khủng hoảng…

Thứ ba, về vị trí pháp lý, chức năng của Ngân hàng Nhà nước

            Nghiên cứu mô hình ngân hàng trung ương của các quốc gia trên thế giới hiện nay cho thấy, với 4 cấp độ khác nhau về tính độc lập của ngân hàng thì Ngân hàng trung ương của Việt Nam có tính độc lập thấp nhất (Ngân hàng Nhà nước không độc lập trong việc thiết lập mục tiêu, không độc lập trong xây dựng chỉ tiêu hoạt động và thậm chí là không tự chủ trong việc lựa chọn công cụ điều hành). Thực tế này đặt ra yêu cầu cần qui định tăng quyền chủ động và tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước, đáp ứng với đặc điểm của thị trường tiền tệ nói riêng và thị trường tài chính của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi nói chung. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm cần có lộ trình để thực hiện mở từng bước tính độc lập của Ngân hàng trung ương và vấn đề này còn liên quan đến một số đạo luật khác như Hiến pháp, Luật Tổ chức chính phủ… Tuy nhiên, nếu qui định như Điều 1 của Dự thảo vừa rườm rà, chưa chính xác. Về chức năng của Ngân hàng Nhà nước, cần xác định rõ Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng ngân hàng trung ương. Qui định tại khoản 2 Điều 1 là chưa đầy đủ và không rõ ràng. Bên cạnh đó, Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia nêu trong dự thảo thực tế không thể tách rời Hội đồng tài chính tiền tệ quốc gia đã được thành lập và hoạt động theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, theo sự điều chỉnh của Luật Tổ chức Chính phủ. Chẳng hạn, ngày 19.11.2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Hội đồgn tư vấn chính tài chính tiền tệ quốc gia theo Quyết định 175/2007/QĐ-TTg theo Luật Tổ chức Chính phủ, nhưng nội duug tư vấn không chỉ liên quan đến chính sách tiền tệ mà còn bao gồm chính sách tài chính và cơ sở để thực hiện các chính sách này. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm cần phải ghép hoạt động tư vấn chính sách tài chính và chính sách tiền tệ vì bản thân những nội dung đó không thể tách rời nhau. Điều đó có nghĩa không thể thành lập Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ và Hội đồng tư vấn chính sách tài chính riêng biệt. Vì vậy, thiết nghĩ không nên qui định về Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia trong Luật này.

            Gắn với việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, theo Dự thảo này Ngân hàng Nhà nước được mở rộng về thẩm quyền (trao cho người điều hành). Đây là phương án phù hợp với mục tiêu vừa thực hiện quyền tối cao của Quốc hội và quản lý tập trung của Chính phủ, vừa đáp ứng những yêu cầu mang tính biến động của thị trường tài chính, tiền tệ. Điều 9 Dự thảo Luật xác định “Thống đốc chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, quyết định các giải pháp, công cụ điều hành chính sách tiền tệ quốc gia” đã nâng thẩm quyền của Thống đốc ngân hàng lên 1 nấc mới. Tính độc lập này còn được thể hiện ở việc trao cho Ngân hàng Nhà nước quyền “điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia” (Điều 10 khoản 2). Chúng tôi cho rằng đây là phương án tốt về việc nâng cao quyền năng của Ngân hàng Nhà nước đồng thời có xem xét đến tình hình cụ thể ở Việt Nam.

Thứ tư, về hoạt động của Ngân hàng Nhà nước

            Xuất phát từ vị trí đặc biệt của mình, Ngân hàng Nhà nước tiến hành hoạt động có sự khác biệt so với các cơ quan quản lý nhà nước khác, đồng thời trách nhiệm là ngân hàng của các ngân hàng. Về cơ bản chúng tôi nhất trí với kết cấu và nội dung của các qui định liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Nhà nước được nêu tại Chương 3 của Dự thảo. Tuy vậy, chúng tôi xin đề cập thêm một số vấn đề có liên qua đến hoạt động của Ngân hàng Nhà nước:

            – Về tên gọi của Chương 3, “hoạt động của Ngân hàng Nhà nước”. Theo từ điển tiếng Việt, hoạt động được hiểu là “việc thực hiện những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”[1]. Những nội dung liên quan đến thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phát hành tiền, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh qoán và ngân quĩ, hoạt động ngoại hối đều nằm trong nội dung hoạt động của ngân hàng trung ương. Vì vậy, thiết nghĩ nếu tên của chương 3 được xác định rõ “hoạt động ngân hàng trung ương của Ngân hàng Nhà nước” sẽ rõ ràng hơn và thế hiện rõ nội dung thứ hai của khoản 1 Điều 1 dự thảo này. Tuy nhiên chúng tôi cũng còn băn khoăn: có những hoạt động không thuần tuý mang nội dung của hoạt động ngân hàng trung ương, chẳng hạn như mục 6 “Hoạt động thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình”, có nhiều nội dung mang tính chất quản lý nhà nước và do Ngân hàng Nhà nước thực hiện với tư là cơ quan quản lý nhà nước và nhiều nội dung qui định tại mục này không phải do Ngân hàng Nhà nước thực hiện, tức là không thể gọi đó là “hoạt động của Ngân hàng Nhà nước”. Nội dung của Điều 37, Điều 38 của Dự thảo thế hiện những vấn đề như vậy. Câu hỏi khác đặt ra là: nếu vậy thì phải đặt tên chương 3 thế nào là phù hợp. Nếu giữ nguyên tên chương 3 là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước cũng không hợp lý bởi lẽ nhiều nội dung hoạt động quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước lại không được thể hiện. Vì vậy, nên chăng cần phải tính toán thêm cách đặt tên để khải quát được toàn bộ nội dung được đề cập trong chương 3, chấp nhận phương án phân tách theo chức năng của Ngân hàng Nhà nước.

            – Nếu như dự thảo Luật Tổ chức tín dụng có đề cập đến việc sử dụng thuật ngữ “dịch vụ ngân hàng” thay cho thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” để phù hợp với thông lệ quốc tế thì tại Dự luật Ngân hàng Nhà nước chưa thể hiện ý tưởng này. Điều 7 Dự luật vẫn giữ khái niệm “hoạt động ngân hàng” với nội hàm của thuật ngữ “dịch vụ ngân hàng” trong Dự luật Tổ chức tín dụng. Chúng tôi đồng tình với quan điểm sử dụng thuật ngữ dịch vụ ngân hàng, nhưng đề nghị cần thống nhất khái niệm này trong hai Luật.

            – Tại Điều 11 Dự thảo có đề cập đến các loại công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Tuy nhiên, các công cụ được liệt kê mới chỉ gắn với mục đích thực hiện ổn định sức mua đối nội; một công cụ rất quan trọng để đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng Việt Nam là công cụ tỷ giá lại không được đề cập. Bên cạnh đó, tại Điều 14 của Dự thảo lại đề cập tới “tỷ giá hối đoái”. Theo kết cấu của mục I chương 3, chúng tôi hiểu rằng nội dung các Điều luật mang tính liệt kê các loại công cụ chính sách tiền tệ quốc gia. Như vậy, nếu về tổng thể, cần bổ sung “tỷ giá” vào Điều 11 để đảm bảo tính đầy đủ của nó.

            – Tại mục 3: hoạt động tín dụng, chúng tôi nhận thấy:

            + Điều 25 khoản 2 mục a xác định trường hợp cho vay khi tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng khủng hoảng đe doạ sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Ở đây, thuật ngữ “tình trạng khủng hoảng” là thuật ngữ mới, chưa được làm rõ và chưa xác định được dấu hiệu. Tuy nhiên, Dự thảo Luật Tổ chức tín dụng lại không sử dụng thuật ngữ này mà tiếp tục sử dụng thuật ngữ “tình trạng kiểm soát đặc biệt”. Một lần nữa, tính thống nhất giữa hai đạo luật lại không được đảm bảo, trong khi đó đây là một trong những yêu cầu cơ bản cần thực hiện của Ban soạn thảo khi giới thiệu 2 Dự thảo này.

            + Điều 28 về góp vốn, mua cổ phần. Hoạt động góp vốn, mua cổ phần là hoạt động đầu tư tài chính của một chủ thể. Để thực hiện hoạt động đầu tư, chủ thể đầu tư cần phải sử dụng vốn thuộc sở hữu của mình (Vốn Điều lệ và các khoản khác được tính thuộc sở hữu của chủ thể đầu tư). Vì vậy, trước hết, không thể đưa nội dung đầu tư này vào mục 3, hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng việc Ngân hàng Nhà nước dùng vốn để thành lập các doanh nghiệp trực thuộc không nhằm mục đích kinh doanh nên không nên đề cập tới trong điều luật này. Nếu cần thiết phải thành lập các tổ chức tín dụng để thực hiện mục đích định trước của Nhà nước, hoàn toàn có thể sử dụng nguồn vốn khác của chủ thể có đầy đủ quyền năng – Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

            – Mục 6 về hoạt động thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình. Gắn với hoạt động thông tin và trách nhiệm cung cấp thông tin, chúng tôi cho rằng cần tính toán thêm một số yêu cầu sau:

            + Cần qui định rõ các loại thông tin phải công bố hoặc báo cáo

            + Qui định thời gian, thời điểm các chủ thể bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước phải công bố thông tin

            + Qui định về trình tự và cách thức công bố thông tin

            Chỉ giải quyết được những yêu cầu cụ thể trên, vấn đề về thông tin, báo cáo và giải trình mới thực hiện được đầy đủ ý nghĩa và yêu cầu của nó, tính minh bạch mới có cơ sở để thực hiện.

Thứ năm, về chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước

            Ngân hàng Nhà nước thực hiện đồng thời hai chức năng: chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương. Điều đó lý giải vì sao trong giai đoạn hiện nay, cần đầu tư vốn cho Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, theo Dự thảo có sự nhầm lẫn giữa vốn pháp định và vốn Điều lệ của ngân hàng Nhà nước. Điều 45, 46 dự thảo nhắc lại nhiều lần thuật ngữ vốn pháp định thay vì phải sử dụng thuật ngữ vốn điều lệ. Cũng như các tổ chức có cung ứng dịch vụ ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước có Vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Sự nhầm lẫn này cũng còn thể hiện tại Điều 28 của dự thảo.

            Điều 48 Dự thảo đề cập tới tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp của cán bộ nhân viên Ngân hàng Nhà nước, đề nghị thu nhập của họ tính trên thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên ngân hàng thương mại có hiệu quả hoạt động tốt nhất. Chúng tôi cho rằng cần phải hết sức thận trọng với đề xuất này. Vẫn biết rằng hiện nay nhiều cán bộ, chuyên viên Ngân hàng Nhà nước nghỉ việc tại Ngân hàng nhà nước và chuyển sang làm việc tại hệ thống các tổ chức tín dụng. Đây là hiện tượng hoàn toàn có thể lý giải được không chỉ đối với Ngân hàng Nhà nước mà còn tại các cơ quan khác trong Bộ máy Nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế giai đoạn hiện nay. Nếu đề xuất này được chấp nhận thì hàng loạt các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp khác cũng cần phải thay đổi ngay chính sách chi trả thu nhập: ngành giáo dục, ngành thuế, ngành hải quan, ngành tư pháp… Thêm nữa, hiện nay chế độ quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước đã có rất nhiều thông thoáng. Các quĩ của Ngân hàng Nhà nước được phép để lại cũng là nguồn đáng kể để khen thưởng hoặc chi trả thu nhập tăng thêm cho những cá nhân làm trong môi trường đặc biệt. Việc lấy cơ sở là thu nhập của ngân hàng thương mại có hiệu quả tốt nhất cũng không có cơ sở vì hoạt động của ngân hàng thương mại tốt nhất chưa phản ánh được đầy đủ kết quả hoạt động quản lý và thực hiện chức năng ngân hàng trung ương của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ sáu, về vi phạm và xử lý vi phạm

            Luật Ngân hàng Nhà nước là văn bản pháp luật quan trọng, có hiệu lực pháp lý cao. Vì vậy, để đảm bảo tính tôn nghiêm của pháp luật, chúng tôi đề nghị chương 7 thay vì qui định khen thưởng và xử lý vi phạm, Luật chỉ nên qui định về các loại hành vi vi phạm, xử lý vi phạm. Luật Ngân hàng Nhà nước mặc dù cần tiếp tục sửa đổi bổ sung nhưng trong thực tế chúng ta đã có thời gian khá dài để kiểm nghiệm và xác định các loại hành vi có thể phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước. Nên chăng Luật liệt kê các loại vi phạm và xử lý vi phạm hiện đang được ghi nhận tại các văn bản dưới Luật (mà cụ thể là nghị định về xử lý vi phạm) để dễ dàng trọng việc nhận diện và thống nhất trong quá trình áp dụng.

            Trên đây là một số ý kiến cá nhân, xin được đề xuất để bạn đọc cùng trao đổi, chia sẻ.

NGUỒN: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT, SỐ 4/2008

[1]  Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1992, trang 453

Advertisements