THS. NGUYỄN THỊ THUỶ – ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

1. Bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu trong giao dịch dân sự và trong bảo hiểm tài sản.

            Chuyển giao quyền yêu cầu, hiểu theo nghĩa thông thường là một người có quyền yêu cầu đối với người khác nhưng họ không thực hiện quyền yêu cầu này mà chuyển giao nó sang cho một chủ thể khác. Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thỏa thuận giữa người có quyền tronginsurance quan hệ nghĩa vụ dân sự với người thứ ba nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho người đó. Người thứ ba gọi là người thế quyền trở thành người có quyền mới có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cho mình.[1] Bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu là sự dịch chuyển quyền lợi pháp lý từ chủ thể chuyển giao sang chủ thể nhận chuyển giao. Dưới gốc độ pháp lý, chủ thể nhận chuyển giao chính là người thứ ba thay thế người có quyền trước tham gia vào một quan hệ dân sự hoàn toàn với tư cách là một chủ thể. Như vậy, để được chuyển giao quyền yêu cầu, người chuyển giao phải có quyền đối với người có nghĩa vụ. Khi họ đã chuyển giao quyền yêu cầu sang cho một chủ thể khác, họ sẽ chấm dứt quan hệ đối với người có nghĩa vụ. Người chuyển giao quyền yêu cầu sau khi đã chuyển giao không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, bởi vì, quan hệ pháp lý giữa họ với người có nghĩa vụ đã chấm dứt tại thời điểm họ chuyển quyền yêu cầu sang cho chủ thể khác. Trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ dân sự thì người thế quyền, với tư cách là người có quyền được phép thực hiện các quyền yêu cầu của mình theo quy định của pháp luật.[2]

Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thay đổi về chủ thể hưởng quyền chứ không phải là sự thay đổi nội dung của quan hệ. Do vậy, việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của người có nghĩa vụ vì trong mọi trường hợp người có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nội dung công việc đã được xác định. Có nghĩa rằng, mặc dù, bên có quyền yêu cầu đã có sự thay đổi về chủ thể thì sự thay đổi này không ảnh hưởng đến các công việc mà người có nghĩa vụ phải thực hiện. Tuy nhiên, chính vì là sự thay đổi về chủ thể nên người chuyển quyền yêu cầu phải báo cho người có nghĩa vụ biết về việc họ đã chuyển giao quyền yêu cầu.

Quan hệ bảo hiểm tài sản thực chất là quan hệ dân sự, do vậy, bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu trong bảo hiểm tài sản cũng gần giống với bản chất của chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, với những đặc trưng của bảo hiểm tài sản thì cách thức và nội dung của chuyển giao quyền yêu cầu trong bảo hiểm tài sản cũng có những nét đặc thù riêng.

Bảo hiểm tài sản là sự chia sẽ rủi ro giữa doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm. Tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm nhằm đạt đựơc mục đích khôi phục lại tình trạng tài chính ban đầu của mình như khi chưa có rủi ro xảy ra. Như vậy, lý do mà bên mua bảo hiểm tiến hành mua bảo hiểm cho tài sản chính là yếu tố rủi ro đối với tài sản, là yếu tố mặc dù chưa có tại thời điểm mua bảo hiểm nhưng có thể xảy ra trong tương lai. Rủi ro trong bảo hiểm là yếu tố bất ngờ, nằm ngoài ý muốn của cả người mua bảo hiểm lẫn doanh nghiệp bảo hiểm. Trong bảo hiểm tài sản, để xác định rủi ro có nằm trong phạm vi bảo hiểm không, người ta căn cứ vào tính khách quan và ngẩu nhiên của nó đối với người mua bảo  hiểm.

Rủi ro trong bảo hiểm tài sản được chia làm hai nhóm chính, đó là rủi ro từ thiên nhiên và rủi ro do con người tạo ra. Đối với những rủi ro từ thiên nhiên, là rủi ro do tự nhiên mà có, không phải xuất phát từ hành động của con người. Còn rủi ro do con người tạo ra là những yếu tố được tạo nên từ hành động của con người. Việc phân loại rủi ro trên đây có ý nghĩa là cơ sở để xác định các quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Cụ thể, đối với những rủi ro do nhiên nhiên tạo ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải tự gánh chịu tổn thất. Lý do, yếu tố rủi ro ở đây không do một chủ thể nào tạo ra, nó không phải là hệ quả của hành vi con người, vì vậy ở góc độ pháp lý, không một ai phải chịu trách nhiệm pháp lý do hậu quả của thiên nhiên mang lại. Tuy nhiên, nếu rủi ro này do con người tạo ra, người ta sẽ phải xem xét đến yếu tố động cơ và mục đích của hành vi con người nhằm xác định trách nhiệm phát sinh từ hành vi đó. Sở dĩ, trong bảo hiểm tài sản, người ta phải lưu ý đến yếu tố này vì không thể một người thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra tổn thất cho người khác rồi tổn thất này sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu thay. Việc gánh chịu tổn thất trong bảo hiểm tài sản là sự gánh chịu cho người mua bảo hiểm chứ không phải cho người gây ra tổn thất. Như vậy, nhìn từ gốc độ pháp lý, khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại đối với người khác họ sẽ phải có trách nhệim bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Trong khoa học pháp lý dân sự, trường hợp này được gọi là quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ở đây, chúng ta xem xét đến mối quan hệ giữa bảo hiểm tài sản và quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để xác định trách nhiệm bồi thường của các bên khi có thiệt hại xảy ra. Nếu nhìn nhận về góc độ thời gian, quan hệ bảo hiểm phải được hình thành trước, do thiệt hại trong bảo hiểm phải từ rủi ro mang lại và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, rủi ro phải chưa xảy ra. Như vậy, quan hệ bồi thường trong bảo hiểm là quan hệ được các bên thỏa thuận trước với những điều kiện và điều khoản đã được xác lập trong hợp đồng bảo hiểm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm không phải phát sinh từ hành vi gây thiệt hại mà phát sinh từ cam kết gánh chịu rủi ro. Do dó, khi có thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước, tức là phải thực hiện nghĩa vụ gánh chịu tổn thất như đã cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên, khi rủi ro này là do con người tạo ra thì quan hệ bảo hiểm không thể chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệp hoàn tất trách nhiệm bồi thường của mình mà nó còn phát sinh vấn đề trách nhiệm của người gây ra thiệt hại đối với bên mua bảo hiểm. Trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, về nguyên tắc, người gây ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, vì người bị thiệt hại đã tham gia vào quan hệ hợp đồng bảo hiểm và đã được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường nên bên mua bảo hiểm không được tiếp tục đòi người gây ra thiệt hại bồi thường cho mình (trừ trường hợp số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho bên mua bảo hiểm nhỏ hơn thiệt hại xảy ra). Do vậy, trong mối quan hệ này sẽ hình thành nên việc chuyển yêu cầu đòi bồi thường từ bên mua bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm. Cụ thể, bên mua bảo hiểm, với tư cách là người có quyền trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ chuyển giao quyền yêu cầu sang cho doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm đòi lại người gây ra thiệt hại khoản tiền đã bồi thường cho bên được bảo hiểm. Như vậy, chuyển giao quyền yêu cầu trong bảo hiểm tài sản chính là chuyển giao quyền đòi bồi thường.

2- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tài sản

Quy định của pháp luật về chuyển quyền khiếu nại trong bảo hiểm tài sản là hoàn toàn hợp lý nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây ra thiệt hại cho bên mua bảo hiểm. Tuy nhiên, trên thực tế, việc vận dụng quy định này vào việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực này đã gặp nhiều khó khăn do quy định của pháp luật vẫn còn nhiều bất cập. Vì vậy, theo chúng tôi, pháp luật nên có những sửa đổi, bổ sung sau:

* Cần quy định lại thời điểm mà bên được bảo hiểm thực hiện việc chuyển yêu cầu bồi hoàn.

            Theo quy định tại khoản 1, Điều 49, Luật kinh doanh bảo hiểm thì: “Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Như vậy, theo quy định trên thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm chuyển quyền yêu cầu đòi bồi thường cho mình khi có đủ hai điều kiện:

            – Thứ nhất, người thứ ba phải có lỗi trong việc gây ra tổn thất cho người được bảo hiểm.

            – Thứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm đã phải trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm.

            Tuy nhiên, khoản 2, Điều 49, Luật kinh doanh bảo hiểm lại quy định: “Trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tuỳ theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm”. Như vậy, quy định của khoản 2 với khoản 1 điều 49 bất hợp lý ở chỗ, theo quy định tại khoản 1 thì doanh nghiệp bảo hiểm đã phải trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm mới được quyền yêu cầu người được bảo hiểm chuyển quyền khiếu nại sang cho mình. Tuy nhiên tại khoản 2 lại quy định nếu người được bảo hiểm không bảo lưu quyền khiếu nại hoặc không chuyển giao quyền yêu cầu thì doanh nghiệp có quyền khấu trừ tiền bồi thường theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm. Sự bất hợp lý ở đây thể hiện, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường rồi, nếu người được bảo hiểm có lỗi trong việc đảm bảo quyền khiếu nại của doanh nghiệp bảo hiểm đối với người gây ra thiệt hại thì liệu doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện được quyền khấu trừ tiền bồi thường được hay không. Số tiền bồi thường này, người được bảo hiểm đã nắm giữ, doanh nghiệp bảo hiểm muốn thực hiện quyền khấu trừ thì phải làm thủ tục để đòi lại số tiền này, nếu người được bảo hiểm không chịu trả thì phải kiện ra tòa và như vậy sẽ mất thời gian và tốn kém chi phí. Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm, pháp luật cần phải sửa đổi theo hướng khi doanh doanh nghiệp bảo hiểm đồng ý bồi thường thì người được bảo hiểm phải thế quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm để đòi người gây ra thiệt hại trong giới hạn số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm cam kết. Quy định như trên sẽ hợp lý và đảm bảo quyền lợi của cả người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm bởi các lý do:

            – Thứ nhất, khi doanh nghiệp bảo hiểm đã đồng ý bồi thường thì quyền lợi của người được bảo hiểm đã được đảm bảo.

            – Thứ hai, việc hoàn tất thủ tục chuyển quyền đòi bồi thường là do doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở hợp tác của người được bảo hiểm, do vậy, ngay sau khi xác định nguyên nhân dẫn đến tổn thất, nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra, cùng với việc đồng ý bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành ngay các thủ tục để đòi người thứ ba bồi thường. Trong trường hợp này, người được bảo hiểm chỉ phải thực hiện thủ tục chuyển giao quyền yêu cầu, còn trên thực tế, doanh nghiệp bảo hiểm có đòi được khoản tiền này hay không không thuộc trách nhiệm của người được bảo hiểm. Như vậy, khi thủ tục này được thực hiện nhanh chóng sẽ vừa bảo vệ được quyền lợi của người được bảo hiểm là nhận được khoản tiền bồi thường kịp thời khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Còn đối với doanh nghiệp bảo hiểm, họ có thể thực hiện được quyền khấu trừ tiền bồi thường của mình khi người được bảo hiểm từ chối hoặc không bảo lưu quyền đòi bồi thường.

* Sửa đổi một số quy định của Bộ luật hàng hải để đảm bảo cho doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện được quyền đòi người thứ ba gây ra thiệt hại phải bồi thường trong bảo hiểm hàng hải.

Ngày 11/01/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới. Để đạt được mục tiêu trên Việt Nam đã phải trải qua 11 năm đàm phán song phương và đa phương. Một trong những nội dung mà đối tác yêu cầu đàm phán là sửa đổi hệ thống pháp luật của Việt Nam phù hợp với các quy định của Tổ chức thương mại thế giới. Bộ luật hàng hải năm 2006 được sửa đổi bổ sung một mặt do các quy định của Bộ luật hàng hải năm 1990 không còn phù hợp, mặt khác cần phải sửa đổi để phù hợp với xu thế hội nhập của Việt Nam.

            Việc sửa đổi pháp luật là cần thiết, tuy nhiên trong quá trình sửa đổi luật do chưa đánh giá hết sự tác động của các quy định nên có một số điều luật đã làm bất lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong tranh chấp bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.

Theo quy định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho các doanh nghiệp nhập khẩu Việt nam trong quan hệ bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu nếu hàng về đến cảng bị hư hõng, mất mát. Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc, người có lỗi phải chịu trách nhiệm bồi thường cho hành vi gây thiệt hại của mình nên điều 49, Luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định về trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn của bên được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm để đòi lại bên gây thiệt hại số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm[3]. Tuy nhiên, trên thực tế, người được bảo hiểm (doanh nghiệp nhập khẩu) đã không thể thực hiện được nghĩa vụ này do quy định của Điều 100 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2006.       

“Điều 100. Ký phát vận đơn trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến

            Trường hợp vận đơn được ký phát theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến và người giữ vận đơn không phải là người thuê vận chuyển thì các quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển và người giữ vận đơn sẽ được điều chỉnh bằng các điều khoản của vận đơn; nếu các điều khoản của hợp đồng vận chuyển theo chuyến đã được đưa vào vận đơn thì các điều khoản này được áp dụng”.       

            Chúng tôi phân tích những quy định gây bất lợi cho người nhập khẩu và doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam như sau:

            Trong phần lớn các hợp đồng mua bán ngoại thương thì người bán là người thuê tàu vận chuyển, khi đó họ có thể là người trực tiếp ký hợp đồng vận chuyển theo chuyến với người vận chuyển hoặc có thể không phải là người trực tiếp ký hợp đồng vận chuyển theo chuyến với người vận chuyển nếu họ chỉ là người mua lại hàng hóa của người khác sau đó bán lại cho người mua Việt Nam. Cho dù họ trực tiếp hay không trực tiếp ký hợp đồng vận chuyển theo chuyến với người vận chuyển thì cũng không làm thay đổi các quyền và nghĩa vụ của người giữ vận đơn vì Điều 100 Bộ luật hàng hải năm 2006 quy định người giữ vận đơn không phải là người thuê vận chuyển thì các quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển và người giữ vận đơn sẽ được điều chỉnh bằng các điều khoản của vận đơn.

            Với quy định nêu trên người giữ vận đơn không có cơ hội được tự nguyện ý chí để thỏa thuận các quyền nghĩa vụ của mình và quyền nghĩa vụ của người vận chuyển trong vận đơn mà họ đã bị áp đặt ý chí về các quyền và nghĩa vụ của họ trong vận đơn bởi các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng vận chuyển theo chuyến.

            Một trong những hậu quả bất lợi do không được thực hiện đàm phán về quyền và nghĩa vụ trong vận đơn là thỏa thuận về điều khoản trọng tài. Thực tế cho thấy các mặt sau của các vận đơn thường có quy định về trọng tài và do chủ thể tham gia ký kết hợp đồng vận chuyển theo chuyến là các đối tác nước ngoài nên hiển nhiên họ sẽ thỏa thuận lựa chọn cơ quan trọng tài là Tổ chức trọng tài hoặc tòa án và áp dụng luật quốc gia của họ.

            Theo thỏa thuận này, khi có tranh chấp phát sinh thì người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chỉ có thể khởi kiện tại Cơ quan trọng tài hoặc Tòa án đã quy định trong vận đơn.

            Để giải quyết các xung đột pháp luật liên quan đến việc lựa chọn cơ quan tài phán trong các mẫu vận đơn có quy định nêu trên, các quốc gia đã có những quy định khác nhau nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân và tổ chức kinh tế của quốc gia mình là người nắm giữ vận đơn, bằng cách quy định cho họ có quyền khởi kiện người vận chuyển tại trọng tài hoặc tòa án của quốc gia mình mà không tuân theo các nội dung thỏa thuận trong vận đơn.

            Nhưng với Điều 100 của Bộ luật hàng hải năm 2006 thì người nắm giữ vận đơn gần như không có cơ hội khởi kiện ra trọng tài hoặc tòa án Việt Nam để tự bảo vệ quyền lợi cho mình.            Trên thực tế, rất nhiều trường hợp, chủ tàu giao hàng thiếu, người nắm giữ vận đơn thông qua doanh nghiệp bảo hiểm hàng hóa cho mình khởi kiện ra Tòa án và yêu cầu bắt giữ tàu. Tòa án thụ lý vụ án và ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tạm giữ tàu trong thời gian giải quyết vụ án. Phía chủ tàu khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với lý do Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện này vì vận đơn quy định các tranh chấp liên quan đến vận đơn do trọng tài hoặc tòa án nước ngoài giải quyết và áp dụng luật pháp của nước ngoài. Với việc khiếu nại nêu trên là có căn cứ nên Tòa án đã ra Quyết định giải tỏa Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Sau đó tòa án ban hành tiếp Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

            Thực tế trên đã cho thấy người nắm giữ vận đơn rất khó bảo vệ được lợi ích của mình vì việc theo kiện tại tòa án của nước ngoài sẽ phát sinh rất nhiều chi phí. Do sự hạn chế của của doanh nghiệp Việt Nam trong việc khiếu kiện đối với các tranh chấp phát sinh tại nước ngoài nên người vận chuyển có thể lợi dụng  quy định này giao hàng thiếu cho người nắm giữ vận đơn tại Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng Vận đơn là bằng chứng chứng minh tàu đã nhận đầy đủ số hàng hóa đã xếp lên tàu để chuyên chở tới cảng đích như đã xác định trong vận đơn, đồng thời vận đơn là bằng chứng chứng minh người sở hữu hàng hóa là người có tên ghi trong Vận đơn (Người  giữ vận đơn). Hành vi làm mát mát hư hỏng hàng hóa của người nắm giữ vận đơn nên được hiểu là hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản là hàng hóa đang được người vận chuyển chiếm hữu.

            Nhằm bảo vệ quyền lợi cho người nắm giữ vận đơn cần phải có các quy định của pháp luật để người nắm giữ vận đơn có thể thực hiện quyền khởi kiện của họ tại tòa án hoặc trọng tài thương mại tại Việt Nam.

Mục 8 Bắt giữ tàu biển được quy định từ Điều 40 đến đều 44 Bộ luật hàng hải năm 2006 đưa ra những quy định để người giữ vận đơn thực hiện quyền bảo vệ lợi ích của mình tại Tòa án Việt Nam nhưng Điều 100 đã hạn chế quyền này của họ. Chính vì vậy, theo chúng tôi, để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp Việt nam trong các tranh chấp hàng hải, đồng thời giúp các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam có thể đòi lại số tiền đã bồi thường từ người gây ra thiệt hại, điều 100 Bộ luật hàng hải cần được sửa đổi theo hướng cho phép người nắm giữ vận đơn có thể khởi kiện tại tòa án của nước mình.

Thống kê tình hình giao nhận hàng hóa chở rời cho thấy một trong những nguyên nhân  hàng giao thiếu khối lượng theo phương pháp xác định bằng mớn nước tàu là do lỗi của tàu. Nếu không khiếu nại được chủ tàu bồi thường do Điều 100 Bộ luật hàng hải năm 2006 thì trước mắt ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam vì họ là người bảo hiểm hàng hóa phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ hàng (người được bảo hiểm) mà không đòi bồi thường được chủ tàu (người gây ra thiệt hại). Thực trạng này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam và trước tình trạng này để duy trì được lợi nhuận, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam sẽ phải tăng phí bảo hiểm, khi đó giá thành nhập khẩu của các đơn vị nhập khẩu gia tăng thêm làm bất lợi về khả năng cạnh tranh cho họ và nền kinh tế. Đồng thời khi các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam tăng phí sẽ là một trong những bất lợi cho họ trong chiến lược cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài. Hiện nay Tòa án nhân nhân tối cao đang soạn thảo một pháp lệnh liên quan đến thủ tục trình tự bắt giữ tàu biển phù hợp với các công ước quốc tế. Chúng tôi cho rằng cần sớm trình UBTV Quốc hội thông qua pháp lệnh này vì đây là việc làm cấp thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và pháp nhân cũng như doanh nghiệp bảo hiểm khi phát sinh tranh chấp hàng hải.

* Pháp luật nên bổ sung quy định nếu người được bảo hiểm từ chối chuyển yêu cầu bồi hoàn hoặc từ bỏ quyền yêu cầu bồi hoàn thì việc từ bỏ này là vô hiệu.

Nghiên cứu quy định của pháp luật về chuyển yêu cầu bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản, chúng tôi thấy rằng còn có những nội dung mà pháp luật chưa hề quy định. Sự thiếu sót này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp xảy ra trên thực tế và gây lúng túng cho cơ quan xét xử khi đưa ra các phán quyết của mình.

               Quy định về trách nhiệm chuyển yêu cầu bồi hoàn trong Luật kinh doanh bảo hiểm và Bộ luật hàng hải mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận quyền của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc yêu cầu người được bảo hiểm phải chuyển quyền khiếu nại mà chưa có quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm đối với bên gây ra thiệt hại trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối hoặc không bảo lưu quyền khiếu nại. Cụ thể, theo quy định của pháp luật hiện hành, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, nếu người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ tiền bồi thường theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm. Với quy định trên đây, trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khấu trừ được tiền bồi thường từ người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng không thể đòi người thứ ba trả lại tiền bồi thường cho mình vì người được bảo hiểm đã từ bỏ quyền này. Quy định trên bất hợp lý ở chỗ, người thứ ba có lỗi sẽ không phải chịu trách nhiệm vật chất do lỗi của mình gây ra. Điều này không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc yêu cầu người có lỗi phải chịu trách nhiệm với hành vi vi phạm của mình. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm trong việc đòi người thứ ba bồi thường, đồng thời đảm bảo nguyên tắc người có lỗi phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm của mình, pháp luật nên quy định “trong trường hợp người được bảo hiểm không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì việc từ bỏ này là vô hiệu”. Quy định như trên sẽ đảm bảo thủ tục pháp lý cho doanh nghiệp bảo hiểm để đòi người thứ ba bồi thường torng trường hợp người được bảo hiểm không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền đòi bồi thường.

 NGUỒN: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ THÁNG 11/2008


[1] Giáo trình Luật dân sự Việt nam tập 2, Trường Đại học Luật Hà nội, 2006, NXB Công an nhân dân, trang 54.

[2] Khoản 2, điều 309, Bộ luật dân sự quy định: “Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu”.

[3] Khoản 1, Điều 49, Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “trong trường hợp người thứ ba có lỗi gay thiệt hại cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm.”

Advertisements