You are currently browsing the monthly archive for Tháng Mười Một 2008.

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Chỉ số giá tiêu dùng sau quí I/2008 đã lập kỷ lục mới kể từ năm 1995 khi tăng tới 9,19% so với cuối năm trước và tăng 19,39% so cùng kỳ (đến hết tháng 4/2008, các con số trên đã lần lượt là 11,39% và 21%), bất chấp nhiều nỗ lực siết chặt tiền tệ từ phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN); USD đã xuống giá đúng qui luật (có lúc đang từ 16.000đ/USD tụt xuống chạm 15.000đ/USD, giảm bình quân 4,32% so với đầu năm 2007), rồi lại đột ngột tăng mạnh trở lại xung quanh 16.000đ/USD kéo theo tâm lý lo ngại có sự chuyển đổi tiền tệ để luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài rời bỏ thị trường. Trong lúc giá trị đối nội của VND giảm, giá trị đối ngoại tăng thì “giá vốn” USD lại luôn có xu hướng tăng, thậm chí nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) sẵn sàng huy động và cho vay USD với lãi suất trên 6%/năm. Trên thị trường tiền tệ, tín dụng sau cơn hoảng loạn về thiếu thanh khoản, phải “đua nhau” tăng lãi suất, đến đầu tháng 3/2008 đã dịu đi phần nào nhờ NHNN phải bơm tiền ra ứng cứu trước khi hút vào và “khuyến cáo” các NHTM không nên huy động quá 12%/năm; thị trường chứng khoán (TTCK) sau một thời kỳ giá “rơi tự do”, hiện đang hoạt động èo uột trong sự “phong toả” biên độ giá bằng cơ chế hành chính; thị trường bất động sản đang có dấu hiệu điều chỉnh khả quan theo hướng “xì hơi” từ từ, nhưng rất khó lường (tất nhiên, nếu để “bục hơi” ở thị trường này thì vô cùng nguy hiểm); thị trường vàng có vẻ sôi động nhất. Tuy giá vàng trong nước có giảm, nhưng tmoney-lockốc độ giảm chậm hơn nhiều so với tốc độ giảm giá của thị trường vàng thế giới hiện đang giảm khá mạnh sau khi tăng liên tục suốt hơn 3 tháng đầu năm 2008, đã xác lập các kỷ lục kế tiếp nhau: Từ trên 1.000USD/ounce xuống còn 878USD/ounce, tương đương mức giảm 12,2% chỉ trong vòng hơn một tuần. Trong khi, tại cùng hai thời điểm đó, giá vàng trong nước chỉ giảm từ 1.920.000đ/chỉ xuống 1.810.000đ/chỉ, giảm 5,7% do cơ chế độc quyền của vài doanh nghiệp được phép nhập khẩu vàng chi phối…

Bức tranh khái quát trên đây phản ánh tính chất phức tạp về các chiều chuyển động hỗn tạp (theo kiểu chuyển động Brown) và khẳng định thị trường tài chính (TTTC) của Việt Nam đang có những dấu hiệu bất ổn… Việc nhận diện đúng thị trường và đưa ra được các gợi ý chính sách mới sao cho những tác động của nó vừa phát huy được các quy luật của thị trường, vừa đẩy lùi được lạm phát và trên cơ sở đó, kích thích được các lực lượng sản xuất xã hội phát triển ổn định theo hướng bền vững là ý muốn đóng góp của bài viết này. Đọc tiếp »

Advertisements

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN – ĐH LUẬT HÀ NỘI

1. Quan niệm về năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại

Năng lực pháp luật của một chủ thể pháp luật nói chung, được hiểu là khả năng hành động trong đời sống pháp luật. Khả năng này của chủ thể pháp luật bao gồm hai thành tố cơ bản: năng lực hưởng quyền và năng lực thực hiện các quyền đó bằng hành vi của mình (năng lực hành vi) (1). Đối với các thể nhân – với tư cách là chủ thể tự nhiên của pháp luật, trong pháp luật dân sự có sự phân biệt rất rõ ràng giữa năng lực pháp luật datmân sự và năng lực hành vi dân sự. Còn đối với các pháp nhân – với tư cách là chủ thể nhân tạo của pháp luật thì vấn đề cấu trúc năng lực pháp luật của pháp nhân có sự khác biệt nhất định. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, do pháp nhân không phải là con người tự nhiên, không có đời sống tâm lý và sinh lý, không có nhận thức và tất nhiên cũng không có những hoạt động ý thức giống như con người nên trong khoa học pháp lý, người ta sử dụng khái niệm “năng lực pháp luật của pháp nhân” với dụng ý chỉ khả năng hưởng quyền của pháp nhân cũng như khả năng thực hiện các quyền đó thông qua những người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Việc pháp nhân luôn luôn và chỉ có thể thực hiện các quyền của mình thông qua những người đại diện hợp pháp, chính là một trong những đặc trưng quan trọng để phân biệt năng lực pháp luật của pháp nhân với năng lực pháp luật của thể nhân trong đời sống pháp luật. Về thực chất, do ngân hàng thương mại cũng là một pháp nhân nên đặc trưng này hiển nhiên cũng đúng với ngân hàng thương mại. Đọc tiếp »

TS. PHAN VĂN TÍNH & PHI LAO

Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây, calendar_shaređã có những đóng góp tích cực cho phát triển và hội nhập đối với nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, để thị trường hoạt động có hiệu quả, an toàn và ổn định chắc chắn cần phải nghiên cứu để phát hiện những tồn tại và yếu kém nhằm có biện pháp khắc phục để hoàn thiện. Con đường đi ngoằn nghèo của một lô cổ phần mà tác giả sẽ đề cập dưới đây, phần nào, cho chúng ta thấy những gì và cần làm gì để thị trường phát triển một cách ổn định? Vì những lý do khác nhau, trong bài viết tên các doanh nghiệp và cá nhân liên quan được thay đổi Đọc tiếp »

PGS,TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ

Sau 2 năm gia nhập WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển biến rõ rệt theo hướng tạo ra một thị trường mở cửa và có tính cạnh tranh cao hơn, thúc đẩy khu vực dịch vụ ngân hcredit-cardsàng tăng trưởng cả về quy mô và loại hình hoạt động, thích ứng nhanh hơn với những tác động từ bên ngoài, từ đó có khả năng đóng góp nhiều hơn và chủ động hơn vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Tất nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra khá nhiều thách thức cho hệ thống ngân hàng, cần phải được nhận diện đầy đủ và có những giải pháp phù hợp. Đọc tiếp »

TRẦN MINH SƠN

1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người[1]. Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp nhà nuớc, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty hợp danh.

Xây dựng và phát triển đội ngũ DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích, tạo thuận lợi cho DNNVV phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung, qua thực tiễn hoạt động và phát triển của DNNVV ở Việt Nam cho thấy, DNNVV có một số vai trò đối với kinh tế – xã hội: Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN HOÀNG ANH

Ngân sách nhà nước (NSNN) là bản thông điệp phản ánh những ưu tiên phát triển của quốc gia gắn với kế hoạch phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính công. Vì vậy, giám sát NSNN có vị trí rất quan trọng trong hoạt động giám sát của Quốc hội. Do chịu tác động của nhiều nhân tố như: sự phát triển của hệ thống đảng chính trị, mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ, tổ chức và hoạt động của thiết chế Quốc hội, vai trò của cơ quan kiểm toán quốc gia, mô hình quản lý ngân sách, thậm chí cả quy mô NSNN… nên hoạt động giám sát NSNN có sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia khác nhau. Ở phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích ảnh hưởng của thể chế trong chính thể phân quyền đến hoạt động giám sát NSNN, nhằm đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội Việt Nam. Đọc tiếp »

1. Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua)/Doanh số bán

Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.stock-photo-bussines

2. Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/Doanh thu

Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Đọc tiếp »

TRẦN THANH HẢI

Dự trữ ngoại hối (DTNH) của Việt Nam tăng đáng kể thời gian qua. DTNH tăng cho thấy nền kinh tế Việt Nam rất khả quan. Môi trường đầu tư được cải thiện rõ rệt, đầu tư nước ngoài vào tăng mạnh,money1 kinh tế tiếp tục trên đà tăng trưởng mạnh, thương mại quốc tế được mở rộng, hợp tác kinh tế song phương và đa phương ngày càng phát triển. Trong khi khối lượng DTNH tăng nhanh, cơ chế quản lý chậm đổi mới sẽ dẫn đến những bất cập như: hình thức đầu tư DTNH còn đơn điệu, hiệu quả thấp, cơ chế phòng ngừa rủi ro đầu tư chưa rõ ràng, quản lý dự trữ thiếu sự minh bạch, thời hạn đầu tư chưa phù hợp; cơ cấu đồng tiền dự trữ chưa hợp lý… Điều đó cho thấy cần phải có những biện pháp đồng bộ nâng cao hiệu quả quản lý nguồn DTNH. Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN TRỌNG TÀI

1. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM)

            Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh (KD) phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là  nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Vì vậy, các tổ chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược phù hợp để chiến thắng trong cạnh tranh. Đọc tiếp »

NGUYỄN ĐÀO TỐ

Trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thu nhập của các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao… Do đó, yêu cầu xây dựng một mô hình quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả và phù hợp với điều kiện Việt Nam là một đòi hỏi bức thiết để đảm bảo hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro và phù hợp với môi trường hội nhập. bank

P. Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Điều đó cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các ngân hàng có năng lực quản trị rủi ro tín dụng là khả năng khống chế nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ xây dựng một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, phù hợp với môi trường hoạt động để hạn chế được những rủi ro tín dụng mang tính chủ quan, xuất phát từ yếu tố con người và những rủi ro tín dụng khác có thể kiểm soát được. Đọc tiếp »

TS. HÀ THỊ NGỌC HÀ

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của nền kinh tế thị trường của bất cứ quốc gia nào cũng đòi hỏi hệ thống pháp luật về kế toán, kiểm toán phải được nghiên cứu, xây dựng accountingpiccho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế thừa nhận. Hệ thống pháp luật về kế toán, kiểm toán của Việt Nam trong 10 năm qua đã liên tục được phát triển và hoàn thiện, nhằm tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế và phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Đồng thời, Việt Nam cũng từng bước thực hiện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN NHƯ MINH

Không phải chỉ có đến ngày nay mà vào những năm đầu thế kỷ 20, vấn đề bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đã được đặt ra, ghi nhận bằng sự ra đời của tổ chức BHTG đầu tiên trên thế giới vào năm 1932, đó là Công ty BHTG Liên Bang Hoa Kỳ (FDIC). Ngày nay, những vấn đề nhức nhối và hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế – xã hội vẫn tiếp tục xảy ra khi người gửi tiền đổ xô đến rút tiền tại các tổ chức nhận moneytiền gửi: trong thập kỷ trước, Chính phủ Achentina phải từ nhiệm vì người rút tiền; gần đây nhất, cuối năm 2007 đầu năm 2008, Chính phủ Anh đã phải quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock, chịu thiệt hại hơn 50 tỷ Euro, Chính phủ Mỹ cũng đã phải cho phá sản một trong những ngân hàng lớn và lâu đời của nước này là Bear Stearns. Vấn đề ngăn ngừa và xử lý rủi ro liên quan đến tiền gửi vẫn luôn luôn thời sự cho đến ngày nay. Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN – ĐH LUẬT HÀ NỘI

Bài viết này xin tham góp một ý kiến trao đổi xung quanh vấn đề bản chất pháp lý của giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng, trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét bước đầu về thực trạng pháp luật điều chỉnh giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay để tạo tiền đề cho việc hoàn thiện mảng pháp luật này trong thời gian tới.

Trong nền kinh tế thị trường, phát hành giấy tờ có giá là giải pháp huy động vốn khá dễ dàng và thstock1uận lợi của các tổ chức kinh tế nói chung và tổ chức tín dụng nói riêng từ công chúng. Tuy nhiên, về phương diện học thuật, do việc phát hành giấy tờ có giá là loại hình giao dịch mới xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây, nên các nghiên cứu từ góc độ pháp lý về vấn đề này còn quá ít ỏi. Điều này, gây khó khăn rất lớn cho việc nhận thức đúng bản chất pháp lý của giao dịch phát hành giấy tờ có giá nói chung, cũng như giao dịch phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nói riêng.  Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN THỊ KIM THANH

Chính sách tiền tệ (CSTT) là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong thời gian qua, việc thực thi CSTT của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đóng góp tích cực cho sự ổn định thị trường tài chính, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, CSTT cũng đã có những bước đổi mới nhất định phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc quốc tế hoá thương mại hàng hoá, đầu tư và dịch vụ khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập đã tạo điều kiện cho Việt Nam khuếch trương các hoạt động sản xuất và tiếp thị trên toàn thế giới. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ… Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập này, nền kinh tế Việt Nam cũng phải đứng trước nhiều thách thức về môi trường pháp luật, công nghệ, năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, tệ nạprivacy-policy-mainn xã hội… Đối với lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, quá trình hội nhập gắn liền với quá trình tự do hoá thị trường tài chính, đem lại nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức. Ngoài những thách thức mà các tổ chức tín dụng (TCTD) phải khắc phục trong việc cạnh tranh nắm giữ và mở rộng thị phần thì cũng đặt ra những thách thức lớn cho NHNN trong việc kiểm soát luồng vốn, điều tiết tiền tệ, lãi suất, tỷ giá… trước những tác động nhạy cảm của thị trường tài chính quốc tế, cũng như sự vận hành của cầu tiền ngày càng phức tạp hơn do tính ngày càng đa dạng trong hoạt động của thị trường tài chính trong nước. Đọc tiếp »

NCS Nguyễn Quang Tuấn – Ths. Lê Thị Thảo

Ở nước ta, việc quản lý và bảo vệ môi trường chủ yếu vẫn dựa vào các công cụ pháp lý và mệnh lệnh hành chính kết hợp với giáo dục và truyền thông về môi trường. Việc sử dụng các công cụ thuế, phí để bảo vệ môi trường mới được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật có liên quan như thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt… Nhưng chúng ta chưa có riêng một loại thuế bảo vệ môi trường cụ thể .

Ở nước ta, việc quản lý và bảo vệ môi trường chủ yếu vẫn dựa vào các công cụ pháp lý và mệnh lệnh hành chính kết hợp với giáo dục và truyền thông về môi trường. Việc sử dụng các công cụ thuế, phí để bảo vệ môi trường mới được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật có liên quan như thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt… Nhưng chúng ta chưa có riêng một loại thuế bảo vệ môi trường cụ thể .

Chúng tôi xin đề cập đến sự cần thiết và nội dung xây dựng Luật Thuế môi trường – một trong những công cụ trọng yếu để bảo vệ chất lượng môi trường sống và sự phát triển bền vững nền kinh tế – xã hội, đồng thời có thể tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 8-2015

Câu chuyện tỉnh Sơn La quyết định đầu tư 1.400 tỷ đồng cho hạng mục quần thể tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy sóng dư luận. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có ý kiến đề nghị địa phương này thận trọng.
Ở đây thấy cần bàn thêm mấy điểm:

1. Nếu nói rằng tiền đầu tư tượng đài là tiền của Sơn La, và địa phương có thể cân đối được, thì cần phải thẳng thắn mà nói rằng đó là một sự "nhận vơ" không dễ thương vì nó gấp khoảng 1,5 lần số thu của toàn tỉnh trong dự toán 2015 (trừ thu từ thủy điện), và nó gấp hơn 4 lần số chi cho đầu tư phát triển của tỉnh này trong năm 2015. Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ là 2.852 tỉ đồng (gồm cả thủy điện), và sẽ phải nhận nguồn phân bổ từ ngân sách trung ương là 6.516 tỉ đồng. Ngoài quần thể quảng trường, tượng đài, từ nay đến 2019, chắc chắn Sơn La phải đầu tư nhiều hạng mục công trình khác như cầu, đường, trường học... Như vậy, tiền đầu tư của dự án quảng trường + tượng đài mà Sơn La bỏ ra chắc chắn không hẳn là của Sơn La, mà là sự đóng góp bằng tiền thuế của cả nước, thông qua ngân sách trung ương để bổ sung cho Sơn La.

2. Qua câu chuyện này cho thấy một lỗ hổng của Luật Đầu tư công, khi chỉ xác định thẩm quyền quyết định dự án đầu tư công theo tổng mức đầu tư, mà chưa so sánh tổng mức đầu tư ấy với tổng thu ngân sách, mức GDP v.v., tức là so sánh với năng lực tài chính của chính địa phương đó.

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Một 2008
H B T N S B C
« Th9   Th12 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1 981 165 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Advertisements