ThS. Trần Vũ Hải

Bài viết cho Chuyên san Thế giới pháp luật

          Trên thị trường chứng khoán, nguyên tắc công khai, trung thực của các chủ thể tham gia được tuân thủ chặt chẽ theo yêu cầu của pháp luật. Nguyên tắc công khai được hiểu là việc công bố rộng rãi và minh bạch những thông tin theo yêu cầu của pháp luật hoặc yêu cầu của một số chủ thể như nhà đầu tư, đối tác hay cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi những chủ thể công bố thông tin phải công bố chính xác những thông tin có thật, không được bịa đặt hoặc làm sai lệch thông tin. Những đòi hỏi này của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, một thị trường mà ở đó, nhà đầu tư thường tách mình ra khỏi hoạt động thường nhật của tổ chức phát hành chứng khoán, nên việc tiếp cận thông tin phần nào đã bị hạn chế. Theo thuật ngữ chuyên môn về chứng khoán gọi hiện tượng này là “bất cân xứng thông tin”.

          Đối với những chủ thể phát hành chứng khoán như công ty đại chúng hoặc quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng, có những thông tin mà chưa được công bố do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà việc chưa công bố này được sự chấp thuận của pháp luật nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường chứng khoán. Những thông tin như vậy gọi là thông tin nội bộ. Theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006, thì thông tin nội bộ là nhữngthông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng đó”. Những thông tin nội bộ có thể là:

         Việc thay đổi cơ cấu nhân sự cấp cao của công ty;

         Tình hình không thuận lợi trong hoạt động như thua lỗ, vướng mắc vào kiện tụng hoặc bị lừa đảo, v.v.;

         Những thay đổi quan trọng trong hoạt động kinh doanh: thay đổi chiến lược đầu tư, chuẩn bị có những dự án đầu tư lớn, hoặc sắp ra mắt sản phẩm mới, v.v.;

         Việc chuyển nhượng vốn của những cổ đông lớn; hoặc

         Những thông tin quan trọng khác.

Việc những thông tin này bị lộ ra ngoài trong khi chưa có sự chuẩn bị cần thiết để đối phó với những tình huống có thể xảy ra do sự thay đổi đổi ngột giá chứng khoán gây ra có thể gây thiệt hại cho công ty, quỹ đại chúng, cho các nhà đầu tư và gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Trên thực tế, có những chủ thể (bao gồm cá nhân và tổ chức), do những lợi thế nhất định mà có được khả năng tiếp cận những nguồn thông tin thuận lợi hơn những chủ thể bình thường khác. Họ có thể dùng lợi thế này để có được những lợi ích vật chất hoặc tinh thần thông qua việc sử dụng những thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán hoặc cung cấp thông tin cho chủ thể khác (người thân, người quen biết hoặc người được tư vấn, v.v.) để những chủ thể này tiến hành những hành vi tương tự. Theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006, những chủ thể được coi là có thông tin nội bộ bao gồm:

– Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc của công ty đại chúng; thành viên Ban đại diện quỹ đại chúng;

– Cổ đông lớn của công ty đại chúng, quỹ đại chúng;

– Người kiểm toán báo cáo tài chính của công ty đại chúng, quỹ đại chúng;

– Người khác tiếp cận được thông tin nội bộ trong công ty đại chúng, quỹ đại chúng;

– Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và người hành nghề chứng khoán của công ty;

– Tổ chức, cá nhân có quan hệ hợp tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ với công ty đại chúng, quỹ đại chúng và cá nhân làm việc trong tổ chức đó;

– Tổ chức, cá nhân khác trực tiếp hoặc gián tiếp có được thông tin nội bộ từ những chủ thể trên đây.

Xét dưới khía cạnh pháp lý, việc những chủ thể trên đây sử dụng những thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán hoặc tư vấn, cung cấp thông tin cho những chủ thể khác mua, bán chứng khoán là những giao dịch không công bằng và không minh bạch, vì những nhà đầu tư khác không có khả năng tiếp cận những thông tin như vậy. Bên cạnh đó, nếu không có sự ngăn chặn của pháp luật thì những hành vi như vậy rất dễ gây nên sự xáo trộn cho thị trường chứng khoán và làm suy giảm hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chính vì vậy, tương tự như pháp luật các quốc gia khác, tại Việt Nam, những hành vi sử dụng thông tin nội bộ để thực hiện các giao dịch bị cấm theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006 và pháp luật có những chế tài cụ thể để xử lý những chủ thể vi phạm. Người biết rõ thông tin nội bộ hoặc người có thông tin nội bộ nếu mua, bán chứng khoán, tiết lộ thông tin này hoặc đề nghị người khác mua, bán chứng khoán thì bị phạt tiền, tịch thu các khoản thu trái pháp luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.