You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat thue’ category.

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Căn cứ Luật Đất đai số 13/2003/QH 11 ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế;

Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu Ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu như sau:

Chương I

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Điều 1. Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Đọc tiếp »

ThS.QUÁCH ĐỨC DŨNG

Quá trình hoạt động của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam cho thấy, nhiều công ty đã có hành vi trốn thuế và tránh thuế thông qua hình thức chuyển giá. Vì vậy, việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các giải pháp chống gian lận thuế qua chuyển giá quốc tế cần được đặc biệt lưu tâm.

Vài nét về hoạt động chuyển giá

Xác định giá chuyển nhượng là một thuật ngữ quốc tế chung phản ánh về cách tính giá trong các giao dịch kinh tế nội bộ giữa các bên trong cùng một tập đoàn, một công ty đa quốc gia… Do tính chất là giao dịch nội bộ nên việc tính giá của bên bán và bên mua, mặc dù được phản ánh đầy đủ và rõ ràng trên chứng từ, hóa đơn, hợp đồng ký kết theo các quy định pháp luật nhưng cơ sở tính giá thường không phản ánh đúng thực tế như giao dịch giữa các bên độc lập theo nguyên tắc thị trường cạnh tranh. Chính vì vậy, mức giá tính cho các giao dịch nội bộ thường làm sao có lợi nhất cho tập đoàn, tổng công ty, làm sao giúp giảm tối thiểu chi phí phải bỏ ra để tối đa hóa lợi nhuận, trong đó thuế là một yếu tố chi phí rất quan trọng. Do đó, các công ty thường có xu hướng dồn thu nhập về nơi có thuế thấp, chuyển chi phí về nơi có thuế cao, thông qua công cụ hữu hiệu và hợp pháp là chuyển giá.

Như vậy, chuyển giá thường gắn với các hoạt động của các công ty đa quốc gia, đó là một nhóm các công ty có cơ sở thường trú ở hai hay nhiều quốc gia hoặc là một công ty đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước khác nhau hoặc thành lập nhiều chi nhánh trong cùng một quốc gia nhưng hoạt động ở nhiều địa phương với các mức ưu đãi thuế khác nhau. Ví dụ: Một doanh nghiệp (DN) nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đầu tiên thành lập một công ty A lắp ráp đồ điện tử tại Hà Nội. Sau khoảng 05 năm, DN này đầu tư tiếp một công ty B sản xuất linh kiện điện tử tại Hải Phòng. Linh kiện của công ty B được “bán” cho công ty A để lắp ráp. Lúc này, công ty A đã hết thời kỳ được ưu đãi thuế nên phải nộp thuế theo thuế suất phổ thông, còn công ty đang B vẫn trong thời hạn được miễn giảm thuế. Để tránh thuế, công ty B đã tính giá linh kiện điện tử bán cho công ty A cao hơn giá thị trường, làm tăng chi phí đầu vào của công ty A và như vậy công ty A có thể bị lỗ, không phải nộp thuế, trong khi công ty B sẽ lãi lớn nhưng đang trong thời hạn miễn thuế và tất nhiên, công ty B cũng không phải nộp thuế. Như vậy, công ty mẹ đầu tư nước ngoài sẽ thu lợi nhuận lớn ngay tại thị trường Việt Nam.

Đọc tiếp »

Trong thời gian gần đây dư luận khá quan tâm đến tỷ lệ động viên thu NSNN của Việt Nam đang ở mức nào so với các nước trên thế giới và khu vực, cũng như định hướng xây dựng và hoàn thiện một số sắc thuế theo chiến lược cải cách hệ thống thuế trong thời gian tới có tỷ lệ động viên vào NSNN phù hợp…

So sánh tỷ lệ động viên thu NSNN của các nước nên đồng nhất tiêu chí, tính chất…

PV: Trước hết, xin ông cho biết tỷ lệ động viên thu NSNN của các nước trên thế giới và khu vực đã được công bố qua bản báo cáo của Ngân hàng Châu Á (ADB) gần đây với tỷ lệ động viên thu NSNN của Việt Nam có gì khác biệt không, thưa ông?

Ông Ngô Hữu Lợi:  So với các nước trên thế giới và các nước trong khu vực, việc xây dựng, tính toán số thu ngân sách ở Việt Nam có một số điểm đặc thù. Chính vì vậy, khi so sánh về mức độ động viên ngân sách của Việt Nam với các nước cần lưu ý một số vấn đề cụ thể như sau:

Hiện nay, số thu ngân sách từ thuế, phí của nhiều nước theo số liệu được tổ chức quốc tế tổng hợp và công bố thường chỉ là số thu của ngân sách của chính quyền trung ương do hệ thống ngân sách của các nước này có sự độc lập giữa các cấp ngân sách. Trong khi đó, hệ thống ngân sách của Việt Nam là thống nhất, theo đó, số thu ngân sách được công bố, công khai hàng năm luôn bao gồm nguồn thu của tất cả 4 cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách, bao gồm trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

Qua nghiên cứu, rà soát,

Đọc tiếp »

1. Ông đánh giá thế nào về mức thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay.

Theo ý kiến cá nhân của tôi, mức thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành về cơ bản là hợp lý vì mặc dù bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay đang có những khó khăn tạm thời, nhưng Chính phủ đã có những giải pháp ổn định tình hình như cho phép giãn nợ thuế, tăng tốc đầu tư công và những giải pháp từ phía chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước.

Thêm nữa, khi xét đến tác động của thuế thì chúng ta thấy, thuế thu nhập không ảnh hưởng đến những cá nhân có thu nhập trung bình, hoặc những doanh nghiệp kinh doanh không có lãi, vì bản thân những chủ thể này không phát sinh tiền thuế phải nộp nên thuế không tác động đến họ.

2. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, thuế thu nhập doanh nghiệp có phải gánh nặng cho doanh nghiệp không?

Đọc tiếp »

VÕ THANH THỦY (CỤC THUẾ HCMC)

1. Thỏa thuận xác định giá trước và khả năng áp dụng trong hoạt động quản lý thuế

Chính sách quản lý thuế (QLT) đối với hoạt động chuyển giá trong giai đoạn vừa qua đã có những bước thay đổi tích cực cả về mặt pháp lý và thực tế ứng dụng. Về cơ bản, các quy định về xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết được dựa trên hướng dẫn của OECD[1], phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cụ thể, Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính (Thông tư 66) về cơ bản đã điều chỉnh được các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp liên kết. Việc quy định các bên liên kết đã rõ ràng, cụ thể hơn các quy định trước đây. Đặc biệt, nguồn thông tin, dữ liệu được phép sử dụng để phân tích, so sánh về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xác định giá thị trường của doanh nghiệp và cơ quan thuế, như: (i) quy định về khác biệt trọng yếu trong so sánh giao dịch liên kết với giao dịch độc lập đã được lượng hóa, không chỉ mang tính định tính như quy định trước đây, đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng thống nhất giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và giữa nội bộ cơ quan thuế với nhau; (ii) hướng dẫn về xác định giá thị trường đã được quy định riêng đối với trường hợp mua và trường hợp bán, đảm bảo thống nhất giữa nguyên tắc chung với việc hướng dẫn cụ thể về xác định giá thị trường; (iii) mẫu biểu kê khai thông tin giao dịch liên kết được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, thuận tiện co việc kê khai của người nộp thuế…

Việc ban hành và thực hiện Thông tư 66 đã góp phần nâng cao hiệu quả QLT, tăng cường thu cho ngân sách nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích và quyền đánh thuế của quốc gia và đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp. “Nhờ có Thông tư 66, trong năm 2011, ngành thuế đã kiểm tra và truy thu khoảng 6.009 tỷ đồng tiền thuế…”[2]

Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn hạn chế quyền hạn của cơ quan thuế, hình thức xử lý đối với doanh nghiệp có hành vi chuyển giá tránh thuế còn quá nhẹ, quy định xác định giá thị trường chưa được linh hoạt đối với một số doanh nghiệp có giao dịch liên kết, quá trình thực hiện của người nộp thuế cũng như cơ quan thuế chưa thực sự thuận tiện. Các biểu hiện cụ thể là[3]:

- Việc quản lý giá giao dịch chuyển giao sản phẩm giữa các bên liên kết chưa được quy định một cách cụ thể trong luật hiện hành;

Đọc tiếp »

Việt Nam đã và đang thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế với chủ trương tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân. Cơ chế này được thực hiện thí điểm vào những năm 2002, 2003, và được áp dụng rộng rãi từ năm 2006, từ sau khi Luật Quản lý thuế ra đời. Đây là bước cải cách quản lý thuế theo hướng hiện đại, tiến bộ, hạn chế việc tiếc xúc trực tiếp với đối tượng nộp thuế nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả quản lý và chống thất thu. Một trong những kỹ năng có liên quan mà cán bộ quản lý thuế phải trau dồi và nâng cao hơn nữa là việc phân tích BCTC của doanh nghiệp (DN). 

Phân tích BCTCDN tại cơ quan thuế

Theo quy định hiện hành, BCTC của DN được lập và gửi cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp chậm nhất là sau 90 ngày từ ngày kết thúc năm tài chinh.

Cơ quan thuế thông qua phân tích BCTC phải đạt được các mục tiêu chính sau: Một là, Tổng hợp nắm bắt được doanh thu, lợi nhuận thực hiện trong kỳ của DN. Qua đó, tổng hợp tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; BCTC của DN như là một bức tranh phản ánh toàn bộ tình hình tài chinh DN trong kỳ kế toán. Nếu tinh thông, người phân tích sẽ nhìn thấy những vấn đề nội tại của DN. Trong các chỉ tiêu của BCTC có liên quan đến kết quả kinh doanh thì 02 chỉ tiêu quan trọng là doanh thu và lợi nhuận thực hiện trong kỳ. Đây cũng là 2 chỉ tiêu liên quan nhiều đến xác định nghĩa vụ thuế của DN. Vì thế, không những chủ DN mà cơ quan thuế cũng quan tâm đặc biệt đến các chỉ tiêu này trên BCTC của DN.

Đọc tiếp »

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng như sau:

Đọc tiếp »

Luật gia Trần Vũ Hải – HLU

Xem thêm:

- VCCI – Dự thảo báo cáo rà soát Luật Thuế GTGT

- VCCI – Dự thảo báo cáo rà soát Luật Thuế TNDN

I. Về báo cáo rà soát Luật Thuế GTGT

Thứ nhất, về đề xuất áp dụng 1 mức thuế suất:

Theo dự thảo về Phương án 2: Áp dụng thống nhất một thuế suất thống nhất 10%. Trong đó, dự thảo cho rằng việc áp dụng một mức thuế suất cần cân nhắc vì nếu áp dụng sớm, cần tính toán cụ thể phương án : giá thành, giá bán, chi phí, lỗ lãi của các cơ sở đang sản xuất kinh doanh mặt hàng có chuyển đổi thuế suất để tránh ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tôi xin được bổ sung: Lý do đưa ra để có 2 mức thuế suất từ trước đến nay nhìn từ lợi ích của doanh nghiệp là không thỏa đáng, vì về bản chất thuế GTGT là thuế do người tiêu dùng phải chịu chứ doanh nghiệp không phải chịu, nên cần tiếp cận theo hướng khuyến khích người tiêu dùng: mặt hàng nào cần khuyến khích tiêu dùng, lý do vì sao, chứ không phải chỉ khuyến khích doanh nghiệp.

Thứ hai, về bất cập trong khấu trừ thuế GTGT do sai sót:

Báo cáo cho rằng, do khấu trừ chậm nên người nộp thuế đã thiệt thòi, nay khâu trước đã nộp khâu sau không được khấu trừ (vì quá thời hạn 6 tháng) là bất cập. Đề nghị nới rộng như thời hạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế là 2 năm.

Tôi cho rằng: Cần phân biệt 2 trường hợp: có lỗi của người nộp thuế hay không có lỗi của người nộp thuế. Cần phải quy định thời hạn ngắn để đảm bảo người nộp thuế phải có trách nhiệm đối với việc kê khai, nếu không doanh nghiệp sẽ phải chịu thiệt. Trong trường hợp không có lỗi của người nộp thì nên để thời gian dài hơn, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ.

Đọc tiếp »

Bùi Văn Nam – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

Ngành Thuế đã xây dựng Chiến lược cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế đến năm 2010 và được Bộ Chính trị phê duyệt tháng 7-2004, trong đó xác định rõ mục tiêu hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính (TTHC), bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ… Xóa bỏ về cơ bản các TTHC mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp (DN) và nhân dân; hoàn thiện các TTHC mới theo hướng công khai, minh bạch và tạo thuận tiện cho người dân.

Một số kết quả đạt được trong giai đoạn 2005-2010

Nhằm thống nhất, đồng bộ TTHC thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan thuế trong triển khai thực hiện công tác quản lý thuế, ngành Thuế đã xây dựng, trình Bộ, Chính phủ, Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế, minh bạch, rõ ràng các chức năng quản lý thuế, các TTHC thuế, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế khi thực hiện các TTHC thuế. Trên cơ sᐠ Luật Quản lý thuế, ngành Thuế đã triển khai đồng bộ các chương trình, giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính thuế ở tất cả các khâu: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và thủ tục mua hóa đơn… Ðây cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan thuế tổ chức lại bộ máy quản lý, bảo đảm thực hiện có hiệu quả cơ chế cơ sở sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế, nhằm khuyến khích sự tuân thủ, tự nguyện trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

Nhằm đơn giản hóa TTHC trong lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010, ngành thuế đã trình Bộ Tài chính công bố Bộ TTHC thuộc lĩnh vực thuế, phí, lệ phí, gồm 330 thủ tục và công khai trên các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, tại cơ quan thuế các cấp để DN, người dân biết và dễ dàng thực hiện, đồng thời, kiểm soát việc thực thi theo đúng quy định, tránh sự tùy tiện gây phiền hà cho người nộp thuế. Kiến nghị đơn giản hóa 271/330 TTHC, trong đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung 261 thủ tục, thay thế sáu thủ tục và bãi bỏ bốn thủ tục, tiết kiệm cho cá nhân, tổ chức 1.921 tỷ đồng/năm. Bộ Tài chính đã kiến nghị đơn giản hóa 35 thủ tục kịp thời tháo gỡ những vướng mắc cho DN cắt giảm được 1.582 tỷ đồng/năm.

Đọc tiếp »

1. Luật Quản lý thuế năm 2006

2. Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

3. Nghị định 13/2009/NĐ-CP ngày 13/2/2009 sửa đổi, bổ sung Nghị định 98

4. Nghị định 85/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế

5. Luật Thuế Giá trị gia tăng năm 2008

6. Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng

7. Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

8. Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp năm 2008

9. Nghị định 124/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

10. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005

11. Nghị định 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu

12. Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007

13. Nghị định 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

14. Nghị định 106/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/09/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Thuế thu nhập cá nhân

15. Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt năm 2008

16. Nghị định 26/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt

17. Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010

18. Luật Thuế Bảo vệ môi trường năm 2010

19. Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1999)

20. Luật Thuế Tài nguyên năm 2010

21. Nghị định 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Luật Kế toán ngày 17 tháng 6 năm 2003;

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (sau đây gọi chung là hóa đơn); xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, gồm:

a) Tổ chức, cá nhân Việt Nam kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi chung là bán hàng hóa, dịch vụ) tại Việt Nam hoặc bán ra nước ngoài;

b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam hoặc sản xuất kinh doanh ở Việt Nam bán hàng ra nước ngoài;

c) Tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc nước ngoài không kinh doanh nhưng có bán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam

2. Tổ chức nhận in hóa đơn.

3. Tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ

4. Cơ quan quản lý thuế các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật.

2. Tạo hóa đơn là hoạt động làm ra hóa đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh; gồm: tự in từ các máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp; đặt các doanh nghiệp đủ điều kiện in hóa đơn; khởi tạo hóa đơn điện tử theo Luật Giao dịch điện tử.

3. Lập hóa đơn là việc ghi đầy đủ nội dung của hóa đơn theo quy định khi bán hàng hóa, dịch vụ

4. Hóa đơn hợp pháp là hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định tại Nghị định này.

5. Hóa đơn giả là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã được phát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệu hóa đơn.

6. Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng là hóa đơn đã được in, khởi tạo theo quy định tại Nghị định này, nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành.

7. Hóa đơn hết giá trị sử dụng là hóa đơn đã làm đủ thủ tục phát hành nhưng tổ chức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bị mất sau khi đã thông báo phát hành, được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơ quan thuế quản lý trực tiếp; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân đã ngưng sử dụng mã số thuế (còn gọi là đóng mã số thuế).

8. Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng; hoặc sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác (trừ hóa đơn do cơ quan thuế phát hành) để lập khi bán hàng hóa, dịch vụ, để hạch toán kế toán, khai thuế, thanh toán vốn ngân sách.

9. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, dịch vụ; cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác; dùng hóa đơn quay vòng khi vận chuyển hàng hóa trong khâu lưu thông.

10. Hóa đơn lập khống là hóa đơn được lập nhưng nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ

Điều 4. Loại, hình thức và nội dung hóa đơn

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế; người nộp thuế; căn cứ tính thuế; đăng ký, khai, tính và nộp thuế; miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Điều 2. Đối tượng chịu thuế

1. Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.

2. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

3. Đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 3 của Luật này sử dụng vào mục đích kinh doanh.

Điều 3. Đối tượng không chịu thuế

Đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh bao gồm:

1. Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ;

2. Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng;

3. Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;

4. Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;

5. Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;

6. Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;

7. Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Người nộp thuế

Đọc tiếp »

BỘ TÀI CHÍNH – BỘ TƯ PHÁP

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN

Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân. Thuế tài nguyên hiện đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế tài nguyên (năm 1998) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên (năm 2008). Quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên đã góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian tới, Pháp lệnh thuế tài nguyên cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp, cụ thể như sau:

1. Những kết quả đạt được

Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia và hầu hết là tài nguyên không tái tạo được cần được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế bền vững trong mối quan hệ hài hoà với giải quyết vấn đề xã hội và môi trường trước mắt cũng như lâu dài.

- Về mục tiêu sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên: Thể hiện ở mức thuế suất thuế tài nguyên được phân biệt theo từng nhóm, loại tài nguyên; mức thuế suất từ 0% (đối với nước thiên nhiên phục vụ các ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và sinh hoạt) đến 20%, 30%, 40% (đối với tài nguyên, khoáng sản quý hiếm) đã góp phần thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên theo hướng khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên nhất là đối với các tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo (dầu khí, than, đá,…).

- Thuế tài nguyên là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật, được sử dụng đồng thời với các công cụ quản lý khác như cấp giấy phép thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyên.

- Với mục tiêu góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế tài nguyên đã đạt được những kết quả nhất định. Số thu thuế tài nguyên các năm từ 2005-2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh trong nước (trong đó, thuế tài nguyên từ dầu khí khoảng 22.160 tỷ đồng, chiếm 95,5% tổng số thu thuế tài nguyên; thuế tài nguyên của các tài nguyên khác khoảng 1.040 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số thu thuế tài nguyên).

2. Một số hạn chế

Đọc tiếp »

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có sự nắm bắt để sửa đổi, bổ sung chính sách kịp thời, nhưng riêng vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản (BĐS), đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Quy định của Luật Thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS là khá thông thoáng, thể hiện rõ xu hướng cải cách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển nhượng BĐS, góp phần làm cho thị trường BĐS sôi động và phát triển. Nhưng trên thực tế thì không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng này để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho NSNN. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.

Tự khai là tài sản duy nhấtimage

Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng BĐS tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng;  công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho NSNN.

Hạ giá chuyển nhượng

Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Những kẻ âm mưu và những kẻ chuyên quyền mọi thời đại đều vô cùng thích lạm dụng những lời lẽ về ý chí quốc gia. Những kẻ âm mưu thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu mua được bởi một vài người có thế lực trong chính quyền. Những kẻ chuyên quyền thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu của thiểu số dân đi bỏ phiếu vì tham hoặc vì sợ. Cái ý chí đó còn thể hiện trong sự im lặng của người dân và cho rằng từ sự phục tùng trên thực tế nảy sinh cho họ cái quyền chỉ huy."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được "hóa giá" với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng "nghe rất là buồn".

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

"Rất là buồn", nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,036,284 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers