You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat thue’ category.

TS. DƯ NGỌC BÍCH

Khoa Kinh tế – Luật, Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

 Thời gian gần đây, dư luận đề cập nhiều đến việc một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài bị nghi ngờ thực hiện hành vi chuyển giá để trốn thuế (điển hình là Công ty Coca-Cola Việt Nam). Nhiều ý kiến bức xúc khi các doanh nghiệp này kinh doanh nhiều năm ở Việt Nam, liên tục kê khai lỗ nhưng lại mở rộng kinh doanh, tăng doanh thu. Có doanh nghiệp có lỗ cộng dồn lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu. Nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu cơ sở pháp lý, do Luật Đầu tư sơ hở, hay do giao dịch của doanh nghiệp quá đặc thù làm cơ quan thuế bất lực?… Chúng tôi xin bàn đến góc độ khả năng thực thi pháp luật của cơ quan thuế.

1. Cơ sở pháp lýChống chuyển giá và khả năng thực thi pháp luật của cơ quan thuế

Có thể liệt kê các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề liên quan đến chuyển giá như Luật Quản lý thuế 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012); Luật Giá 2012; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008; Thông tư 66/2012/TT-BTC (Thông tư 66 – hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết), trong đó đặc biệt là Thông tư 66 điều chỉnh chi tiết và trực tiếp nhất.

Mục đích của Thông tư 66 là hướng dẫn thực hiện các quy định về việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết làm căn cứ kê khai xác định nghĩa vụ thuế thu nhập của cơ sở kinh doanh. Thuật ngữ “giá thị trường” được giải thích là “để chỉ giá sản phẩm theo thỏa thuận khách quan trong giao dịch kinh doanh trên thị trường giữa các bên không có mối quan hệ liên kết (các bên độc lập)”. Như vậy, các doanh nghiệp có mối liên hệ liên kết khi giao dịch với nhau phải thực hiện theo giá thị trường như với các bên độc lập (arm’s length principle).

Đọc tiếp »

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế:

1. Bổ sung các khoản 4, 5 và 6 vào Điều 4 như sau:    

“4. Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế:

a) Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế;

b) Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế.

5. Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau:

a) Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục;

b) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;

c) Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử;

d) Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê;

đ) Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm theo mức quy định.

6. Chính phủ quy định chi tiết khoản 4, khoản 5 Điều này.”

2. Bổ sung các khoản 10, 11 và 12 vào Điều 5 như sau:

Đọc tiếp »

NGUYỄN BÁ PHÚ

Cục thuế Thanh Hóa

Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, đánh vào sản phẩm khai thác chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, như: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩm của rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật);… Tài nguyên thiên nhiên khác. Trên thực tế, để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước, Nhà nước ta đã áp dụng một cách hợp lý việc huy động thuế với cách điều tiết thông qua giá tính thuế và thuế suất. Việc điều chỉnh chính sách thuế tài nguyên cũng là yêu cầu được đặt ra thường xuyên nhằm làm cho hành lang pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp hơn. Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 là một bước quan trọng hoàn chỉnh pháp luật về thuế Tài nguyên. Cùng với Luật thuế Tài nguyên 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên. Bộ Tài chính trong phạm vi chức năng của mình cũng đã ban hành Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ. 
Thứ nhất, những khác biệt giữa qui định mới và cũ

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Căn cứ Luật Đất đai số 13/2003/QH 11 ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;

Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế;

Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu Ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu như sau:

Chương I

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Điều 1. Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Đọc tiếp »

ThS.QUÁCH ĐỨC DŨNG

Quá trình hoạt động của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam cho thấy, nhiều công ty đã có hành vi trốn thuế và tránh thuế thông qua hình thức chuyển giá. Vì vậy, việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các giải pháp chống gian lận thuế qua chuyển giá quốc tế cần được đặc biệt lưu tâm.

Vài nét về hoạt động chuyển giá

Xác định giá chuyển nhượng là một thuật ngữ quốc tế chung phản ánh về cách tính giá trong các giao dịch kinh tế nội bộ giữa các bên trong cùng một tập đoàn, một công ty đa quốc gia… Do tính chất là giao dịch nội bộ nên việc tính giá của bên bán và bên mua, mặc dù được phản ánh đầy đủ và rõ ràng trên chứng từ, hóa đơn, hợp đồng ký kết theo các quy định pháp luật nhưng cơ sở tính giá thường không phản ánh đúng thực tế như giao dịch giữa các bên độc lập theo nguyên tắc thị trường cạnh tranh. Chính vì vậy, mức giá tính cho các giao dịch nội bộ thường làm sao có lợi nhất cho tập đoàn, tổng công ty, làm sao giúp giảm tối thiểu chi phí phải bỏ ra để tối đa hóa lợi nhuận, trong đó thuế là một yếu tố chi phí rất quan trọng. Do đó, các công ty thường có xu hướng dồn thu nhập về nơi có thuế thấp, chuyển chi phí về nơi có thuế cao, thông qua công cụ hữu hiệu và hợp pháp là chuyển giá.

Như vậy, chuyển giá thường gắn với các hoạt động của các công ty đa quốc gia, đó là một nhóm các công ty có cơ sở thường trú ở hai hay nhiều quốc gia hoặc là một công ty đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước khác nhau hoặc thành lập nhiều chi nhánh trong cùng một quốc gia nhưng hoạt động ở nhiều địa phương với các mức ưu đãi thuế khác nhau. Ví dụ: Một doanh nghiệp (DN) nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đầu tiên thành lập một công ty A lắp ráp đồ điện tử tại Hà Nội. Sau khoảng 05 năm, DN này đầu tư tiếp một công ty B sản xuất linh kiện điện tử tại Hải Phòng. Linh kiện của công ty B được “bán” cho công ty A để lắp ráp. Lúc này, công ty A đã hết thời kỳ được ưu đãi thuế nên phải nộp thuế theo thuế suất phổ thông, còn công ty đang B vẫn trong thời hạn được miễn giảm thuế. Để tránh thuế, công ty B đã tính giá linh kiện điện tử bán cho công ty A cao hơn giá thị trường, làm tăng chi phí đầu vào của công ty A và như vậy công ty A có thể bị lỗ, không phải nộp thuế, trong khi công ty B sẽ lãi lớn nhưng đang trong thời hạn miễn thuế và tất nhiên, công ty B cũng không phải nộp thuế. Như vậy, công ty mẹ đầu tư nước ngoài sẽ thu lợi nhuận lớn ngay tại thị trường Việt Nam.

Đọc tiếp »

Trong thời gian gần đây dư luận khá quan tâm đến tỷ lệ động viên thu NSNN của Việt Nam đang ở mức nào so với các nước trên thế giới và khu vực, cũng như định hướng xây dựng và hoàn thiện một số sắc thuế theo chiến lược cải cách hệ thống thuế trong thời gian tới có tỷ lệ động viên vào NSNN phù hợp…

So sánh tỷ lệ động viên thu NSNN của các nước nên đồng nhất tiêu chí, tính chất…

PV: Trước hết, xin ông cho biết tỷ lệ động viên thu NSNN của các nước trên thế giới và khu vực đã được công bố qua bản báo cáo của Ngân hàng Châu Á (ADB) gần đây với tỷ lệ động viên thu NSNN của Việt Nam có gì khác biệt không, thưa ông?

Ông Ngô Hữu Lợi:  So với các nước trên thế giới và các nước trong khu vực, việc xây dựng, tính toán số thu ngân sách ở Việt Nam có một số điểm đặc thù. Chính vì vậy, khi so sánh về mức độ động viên ngân sách của Việt Nam với các nước cần lưu ý một số vấn đề cụ thể như sau:

Hiện nay, số thu ngân sách từ thuế, phí của nhiều nước theo số liệu được tổ chức quốc tế tổng hợp và công bố thường chỉ là số thu của ngân sách của chính quyền trung ương do hệ thống ngân sách của các nước này có sự độc lập giữa các cấp ngân sách. Trong khi đó, hệ thống ngân sách của Việt Nam là thống nhất, theo đó, số thu ngân sách được công bố, công khai hàng năm luôn bao gồm nguồn thu của tất cả 4 cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách, bao gồm trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

Qua nghiên cứu, rà soát,

Đọc tiếp »

1. Ông đánh giá thế nào về mức thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay.

Theo ý kiến cá nhân của tôi, mức thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành về cơ bản là hợp lý vì mặc dù bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay đang có những khó khăn tạm thời, nhưng Chính phủ đã có những giải pháp ổn định tình hình như cho phép giãn nợ thuế, tăng tốc đầu tư công và những giải pháp từ phía chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước.

Thêm nữa, khi xét đến tác động của thuế thì chúng ta thấy, thuế thu nhập không ảnh hưởng đến những cá nhân có thu nhập trung bình, hoặc những doanh nghiệp kinh doanh không có lãi, vì bản thân những chủ thể này không phát sinh tiền thuế phải nộp nên thuế không tác động đến họ.

2. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, thuế thu nhập doanh nghiệp có phải gánh nặng cho doanh nghiệp không?

Đọc tiếp »

VÕ THANH THỦY (CỤC THUẾ HCMC)

1. Thỏa thuận xác định giá trước và khả năng áp dụng trong hoạt động quản lý thuế

Chính sách quản lý thuế (QLT) đối với hoạt động chuyển giá trong giai đoạn vừa qua đã có những bước thay đổi tích cực cả về mặt pháp lý và thực tế ứng dụng. Về cơ bản, các quy định về xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết được dựa trên hướng dẫn của OECD[1], phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cụ thể, Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính (Thông tư 66) về cơ bản đã điều chỉnh được các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp liên kết. Việc quy định các bên liên kết đã rõ ràng, cụ thể hơn các quy định trước đây. Đặc biệt, nguồn thông tin, dữ liệu được phép sử dụng để phân tích, so sánh về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xác định giá thị trường của doanh nghiệp và cơ quan thuế, như: (i) quy định về khác biệt trọng yếu trong so sánh giao dịch liên kết với giao dịch độc lập đã được lượng hóa, không chỉ mang tính định tính như quy định trước đây, đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng thống nhất giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và giữa nội bộ cơ quan thuế với nhau; (ii) hướng dẫn về xác định giá thị trường đã được quy định riêng đối với trường hợp mua và trường hợp bán, đảm bảo thống nhất giữa nguyên tắc chung với việc hướng dẫn cụ thể về xác định giá thị trường; (iii) mẫu biểu kê khai thông tin giao dịch liên kết được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, thuận tiện co việc kê khai của người nộp thuế…

Việc ban hành và thực hiện Thông tư 66 đã góp phần nâng cao hiệu quả QLT, tăng cường thu cho ngân sách nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích và quyền đánh thuế của quốc gia và đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp. “Nhờ có Thông tư 66, trong năm 2011, ngành thuế đã kiểm tra và truy thu khoảng 6.009 tỷ đồng tiền thuế…”[2]

Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn hạn chế quyền hạn của cơ quan thuế, hình thức xử lý đối với doanh nghiệp có hành vi chuyển giá tránh thuế còn quá nhẹ, quy định xác định giá thị trường chưa được linh hoạt đối với một số doanh nghiệp có giao dịch liên kết, quá trình thực hiện của người nộp thuế cũng như cơ quan thuế chưa thực sự thuận tiện. Các biểu hiện cụ thể là[3]:

- Việc quản lý giá giao dịch chuyển giao sản phẩm giữa các bên liên kết chưa được quy định một cách cụ thể trong luật hiện hành;

Đọc tiếp »

Việt Nam đã và đang thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế với chủ trương tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân. Cơ chế này được thực hiện thí điểm vào những năm 2002, 2003, và được áp dụng rộng rãi từ năm 2006, từ sau khi Luật Quản lý thuế ra đời. Đây là bước cải cách quản lý thuế theo hướng hiện đại, tiến bộ, hạn chế việc tiếc xúc trực tiếp với đối tượng nộp thuế nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả quản lý và chống thất thu. Một trong những kỹ năng có liên quan mà cán bộ quản lý thuế phải trau dồi và nâng cao hơn nữa là việc phân tích BCTC của doanh nghiệp (DN). 

Phân tích BCTCDN tại cơ quan thuế

Theo quy định hiện hành, BCTC của DN được lập và gửi cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp chậm nhất là sau 90 ngày từ ngày kết thúc năm tài chinh.

Cơ quan thuế thông qua phân tích BCTC phải đạt được các mục tiêu chính sau: Một là, Tổng hợp nắm bắt được doanh thu, lợi nhuận thực hiện trong kỳ của DN. Qua đó, tổng hợp tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; BCTC của DN như là một bức tranh phản ánh toàn bộ tình hình tài chinh DN trong kỳ kế toán. Nếu tinh thông, người phân tích sẽ nhìn thấy những vấn đề nội tại của DN. Trong các chỉ tiêu của BCTC có liên quan đến kết quả kinh doanh thì 02 chỉ tiêu quan trọng là doanh thu và lợi nhuận thực hiện trong kỳ. Đây cũng là 2 chỉ tiêu liên quan nhiều đến xác định nghĩa vụ thuế của DN. Vì thế, không những chủ DN mà cơ quan thuế cũng quan tâm đặc biệt đến các chỉ tiêu này trên BCTC của DN.

Đọc tiếp »

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng như sau:

Đọc tiếp »

Luật gia Trần Vũ Hải – HLU

Xem thêm:

- VCCI – Dự thảo báo cáo rà soát Luật Thuế GTGT

- VCCI – Dự thảo báo cáo rà soát Luật Thuế TNDN

I. Về báo cáo rà soát Luật Thuế GTGT

Thứ nhất, về đề xuất áp dụng 1 mức thuế suất:

Theo dự thảo về Phương án 2: Áp dụng thống nhất một thuế suất thống nhất 10%. Trong đó, dự thảo cho rằng việc áp dụng một mức thuế suất cần cân nhắc vì nếu áp dụng sớm, cần tính toán cụ thể phương án : giá thành, giá bán, chi phí, lỗ lãi của các cơ sở đang sản xuất kinh doanh mặt hàng có chuyển đổi thuế suất để tránh ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tôi xin được bổ sung: Lý do đưa ra để có 2 mức thuế suất từ trước đến nay nhìn từ lợi ích của doanh nghiệp là không thỏa đáng, vì về bản chất thuế GTGT là thuế do người tiêu dùng phải chịu chứ doanh nghiệp không phải chịu, nên cần tiếp cận theo hướng khuyến khích người tiêu dùng: mặt hàng nào cần khuyến khích tiêu dùng, lý do vì sao, chứ không phải chỉ khuyến khích doanh nghiệp.

Thứ hai, về bất cập trong khấu trừ thuế GTGT do sai sót:

Báo cáo cho rằng, do khấu trừ chậm nên người nộp thuế đã thiệt thòi, nay khâu trước đã nộp khâu sau không được khấu trừ (vì quá thời hạn 6 tháng) là bất cập. Đề nghị nới rộng như thời hạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế là 2 năm.

Tôi cho rằng: Cần phân biệt 2 trường hợp: có lỗi của người nộp thuế hay không có lỗi của người nộp thuế. Cần phải quy định thời hạn ngắn để đảm bảo người nộp thuế phải có trách nhiệm đối với việc kê khai, nếu không doanh nghiệp sẽ phải chịu thiệt. Trong trường hợp không có lỗi của người nộp thì nên để thời gian dài hơn, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ.

Đọc tiếp »

Bùi Văn Nam – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

Ngành Thuế đã xây dựng Chiến lược cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế đến năm 2010 và được Bộ Chính trị phê duyệt tháng 7-2004, trong đó xác định rõ mục tiêu hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính (TTHC), bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ… Xóa bỏ về cơ bản các TTHC mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp (DN) và nhân dân; hoàn thiện các TTHC mới theo hướng công khai, minh bạch và tạo thuận tiện cho người dân.

Một số kết quả đạt được trong giai đoạn 2005-2010

Nhằm thống nhất, đồng bộ TTHC thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan thuế trong triển khai thực hiện công tác quản lý thuế, ngành Thuế đã xây dựng, trình Bộ, Chính phủ, Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế, minh bạch, rõ ràng các chức năng quản lý thuế, các TTHC thuế, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế khi thực hiện các TTHC thuế. Trên cơ sᐠ Luật Quản lý thuế, ngành Thuế đã triển khai đồng bộ các chương trình, giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính thuế ở tất cả các khâu: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và thủ tục mua hóa đơn… Ðây cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan thuế tổ chức lại bộ máy quản lý, bảo đảm thực hiện có hiệu quả cơ chế cơ sở sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế, nhằm khuyến khích sự tuân thủ, tự nguyện trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

Nhằm đơn giản hóa TTHC trong lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010, ngành thuế đã trình Bộ Tài chính công bố Bộ TTHC thuộc lĩnh vực thuế, phí, lệ phí, gồm 330 thủ tục và công khai trên các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, tại cơ quan thuế các cấp để DN, người dân biết và dễ dàng thực hiện, đồng thời, kiểm soát việc thực thi theo đúng quy định, tránh sự tùy tiện gây phiền hà cho người nộp thuế. Kiến nghị đơn giản hóa 271/330 TTHC, trong đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung 261 thủ tục, thay thế sáu thủ tục và bãi bỏ bốn thủ tục, tiết kiệm cho cá nhân, tổ chức 1.921 tỷ đồng/năm. Bộ Tài chính đã kiến nghị đơn giản hóa 35 thủ tục kịp thời tháo gỡ những vướng mắc cho DN cắt giảm được 1.582 tỷ đồng/năm.

Đọc tiếp »

1. Luật Quản lý thuế năm 2006

2. Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

3. Nghị định 13/2009/NĐ-CP ngày 13/2/2009 sửa đổi, bổ sung Nghị định 98

4. Nghị định 85/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế

5. Luật Thuế Giá trị gia tăng năm 2008

6. Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng

7. Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

8. Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp năm 2008

9. Nghị định 124/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

10. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005

11. Nghị định 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu

12. Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007

13. Nghị định 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

14. Nghị định 106/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/09/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Thuế thu nhập cá nhân

15. Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt năm 2008

16. Nghị định 26/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt

17. Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010

18. Luật Thuế Bảo vệ môi trường năm 2010

19. Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1999)

20. Luật Thuế Tài nguyên năm 2010

21. Nghị định 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Luật Kế toán ngày 17 tháng 6 năm 2003;

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (sau đây gọi chung là hóa đơn); xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, gồm:

a) Tổ chức, cá nhân Việt Nam kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi chung là bán hàng hóa, dịch vụ) tại Việt Nam hoặc bán ra nước ngoài;

b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam hoặc sản xuất kinh doanh ở Việt Nam bán hàng ra nước ngoài;

c) Tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc nước ngoài không kinh doanh nhưng có bán hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam

2. Tổ chức nhận in hóa đơn.

3. Tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ

4. Cơ quan quản lý thuế các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc in, phát hành, sử dụng hóa đơn

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật.

2. Tạo hóa đơn là hoạt động làm ra hóa đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh; gồm: tự in từ các máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp; đặt các doanh nghiệp đủ điều kiện in hóa đơn; khởi tạo hóa đơn điện tử theo Luật Giao dịch điện tử.

3. Lập hóa đơn là việc ghi đầy đủ nội dung của hóa đơn theo quy định khi bán hàng hóa, dịch vụ

4. Hóa đơn hợp pháp là hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định tại Nghị định này.

5. Hóa đơn giả là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã được phát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệu hóa đơn.

6. Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng là hóa đơn đã được in, khởi tạo theo quy định tại Nghị định này, nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành.

7. Hóa đơn hết giá trị sử dụng là hóa đơn đã làm đủ thủ tục phát hành nhưng tổ chức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bị mất sau khi đã thông báo phát hành, được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơ quan thuế quản lý trực tiếp; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân đã ngưng sử dụng mã số thuế (còn gọi là đóng mã số thuế).

8. Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng; hoặc sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác (trừ hóa đơn do cơ quan thuế phát hành) để lập khi bán hàng hóa, dịch vụ, để hạch toán kế toán, khai thuế, thanh toán vốn ngân sách.

9. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, dịch vụ; cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác; dùng hóa đơn quay vòng khi vận chuyển hàng hóa trong khâu lưu thông.

10. Hóa đơn lập khống là hóa đơn được lập nhưng nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ

Điều 4. Loại, hình thức và nội dung hóa đơn

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tám 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 7    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,097,888 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 125 other followers