You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat thue’ category.

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Tổng Cục Thuế có công văn số 1133/TCT-TNCN trả lời vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS trong đó giải thích về việc một bên ủy quyền cho người khác toàn quyền quản lý, chuyển nhượng đối với bất động sản thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mục đích của công văn này là hướng dẫn các cơ quan thuế phòng tránh việc trốn thuế chuyển nhượng bất động sản bằng cách không lập hợp đồng mua, bán mà là hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, người viết cho rằng công văn này là trái những nguyên tắc chung của pháp luật vì những lý do chính sau đây:

1. Tổng Cục thuế cho rằng, những người đủ năng lực dân sự để thực hiện giao dịch thì không thể được ủy quyền, mà luôn coi ủy quyền này là mua, bán là một suy diễn vô lý. Một là, nếu không đủ năng lực dân sự thì không thể ủy quyền được. Hai là, ủy quyền là quyền năng dân sự được Bộ luật Dân sự cho phép, không thể bị hạn chế trong những trường hợp thông thường.

2. Pháp luật thuế không giải thích việc ủy quyền dân sự theo hướng này, việc Tổng Cục thuế giải thích một cách áp đặt, không có trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng đồng nghĩa với việc cơ quan này lạm quyền ban hành quy định, trong khi đó, trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật phải thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

3. Mặc dù trên thực tế, việc lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trốn thuế Thu nhập cá nhân đáng bị xử lý, nhưng Tổng Cục thuế không được quyền đánh đồng mọi hợp đồng ủy quyền đều là giao dịch giả tạo. Việc trốn thuế cần phải được cơ quan quản lý thuế chứng minh bằng những bằng chứng đáng tin cậy, việc võ đoán theo kiểu "nhìn mặt, bắt hình dong" là xâm phạm đến nguyên tắc tự do của công dân.

4. Và ngay cả đối với giao dịch giả tạo, thì chức năng tuyên một hợp đồng vô hiệu do giả tạo cũng thuộc về cơ quan Tòa án, chứ không phải là cơ quan thuế.

———————————–

Sau đây là toàn văn công văn 1133/TCT-TNCN

Đọc tiếp »

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Để áp dụng đúng và thống nhất các qui định của Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau:

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác qui định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

ThS LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Hiện nay tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đạt mức 0,6% GDP, trong đó, chủ yếu từ ngân sách nhà nước (0,5% GDP). Mức đầu tư này hiện đang thấp hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho KH&CN là 3,3% GDP, Hàn Quốc là 3%, Mỹ 2,7%, Đức 2,3%, Singapore 2,2%). Do vậy, việc gia tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN, đặc biệt, việc huy động từ phía doanh nghiệp là vấn đề quan trọng đang được đặt ra. Một trong những hình thức huy động được áp dụng là khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN để phục vụ cho việc đổi mới công nghệ tại chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thành lập loại hình Quỹ này ở nước ta hiện còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Đặt vấn đề

Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là một trong những loại hình Quỹ được đề cập đầu tiên tại nước ta trong Luật KH&CN [1] năm 2000. Điều 38.2 Luật KH&CN quy định: “Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN”. Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) (2006) [2], Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) [3] tiếp tục bổ sung và đưa ra những quy định cụ thể. Trên cơ sở quy định của các Luật trên, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể: Quyết định 36 [4], Thông tư 15 [5], Thông tư 105 [6]. Có thể nói, đây là các văn bản pháp lý quan trọng để Quỹ hình thành và đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tại Hội thảo về việc triển khai thực hiện Quỹ trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 26.4.2013 [7]: “Việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, ít về số lượng (khoảng 15%), lại không đồng đều, như tại Bình Phước có doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế chỉ được khoảng 20 triệu đồng, có doanh nghiệp lại lên đến 189 tỷ đồng”.

Đọc tiếp »

NGÔ QUANG TRUNG

1. Tóm lược về FDI tại Việt Nam

Trải qua 25 năm hoạt động, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam là khó rõ nét và đã được khẳng định: hiện nay có 15.067 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung quan trọng cho tổng vốn đầu tư xã hội. Các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống cho người lao động.

Bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, FDI cũng đã và đang bộc lộ những vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng. Gần đây, đã xuất hiện hàng loạt sự việc tác động xấu đến sự phát triển của Việt Nam, gây bức xúc cho dư luận xã hội, trong đó nổi bật lên là chuyển giá, trốn thuế, tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đến môi trường đầu tư.

2. Một số hình thức chuyển giá cơ bản của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và các doanh nghiệp FDI trên thế giới.

Hiện tượng chuyển giá hầu như đều xảy ra đối với các công ty đa quốc gia. Tại Việt Nam, hiện tượng chuyển giá đã xuất hiện và ngày càng nhiều tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đọc tiếp »

Tại Thông tư số 219/2013/TT- BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT đã nêu rõ các đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1-1-2014.

9 đối tượng được hoàn thuế

Thứ nhất, cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo. Trường hợp lũy kế sau ít nhất 12 tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc sau ít nhất 4 quý tính từ quý đầu tiên phát

sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế.

Thứ hai, là cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm (12 tháng) trở lên  thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm.

Đọc tiếp »

Các đại gia FDI dính án chuyển giá ngàn tỷ đều đã được kiểm toán bởi những tập đoàn kiểm toàn hàng đầu thế giới. Bằng cách nào mà âm mưu chuyển giá qua mặt được các chuyên gia kiểm toán quốc tế, hay chính kiểm toán có những ảo thuật để giúp dàn xếp giá tinh vi giữa các ông lớn để cùng kiếm lợi?.

“Mẹ con” lòng vòng dàn xếp giá

Tại một cuộc hội thảo về đầu tư ở Đà Nẵng cuối năm ngoái, ông Iwama Shinichi, Chủ tịch Công ty Daiwa Seiko, Chủ tịch Chi hội DN Nhật tại Đà Nẵng cho biết, năm 2007, Daiwa Việt Nam có 400 nhân viên với doanh thu đạt 300 triệu USD, đến nay số nhân viên tăng gấp 5 lần và doanh thu tăng gấp 10 lần.

Được cấp phép từ 9/2005, DaiWa Việt Nam – công ty con của Tập đoàn Daiwa Seiko, Nhật Bản được coi là thế hệ FDI tiên ở Đà Nẵng. Tháng 6/2008, Daiwa Việt Nam đã khánh thành giai đoạn 2 nhà máy sản xuất dụng cụ thể thao lớn nhất thế giới của Tập đoàn Daiwa tại KCN Hòa Khánh, Đà Nẵng với vốn đầu tư 35 triệu USD.

Thoạt nghe, ai cũng tưởng DN này đóng góp lớn cho ngân sách Đà Nẵng. Thế nhưng, có đến cơ quan thuế mới té ngửa, trong giai đoạn 3 năm 2007-2009, DN này đã có số lỗ lũy kế lên tới 319 tỷ đồng.

Đọc tiếp »

(Tài chính) Trong suốt 4 năm qua, để thực hiện được hành vi xuất khống hàng chục, hàng trăm ngàn thùng rượu sang thị trường Lào, công ty Halico đã triển khai hết sức chặt chẽ.

    Rượu Hà Nội kiếm lãi khổng lồ nhờ buôn lậu

Trong suốt 4 năm, công ty Halico đã thực hiện được hành vi xuất khống rượu sang thị trường Lào. Nguồn: internet

Sau khi khởi tố vụ án hình sự về tội “Buôn lậu” xảy ra tại Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội (công ty Halico) và công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Hoàng Lân (công ty Hoàng Lân), cơ quan Hải quan tiếp tục mở rộng điều tra phát hiện từ năm 2008 đến năm 2012, Halico đã cùng với “sân sau” là công ty Hoàng Lân làm khống nhiều hồ sơ hải quan để làm các thủ tục và thực xuất rượu Vodka sang Lào. Lợi nhuận từ những phi vụ phi pháp của Halico là bao nhiêu, miếng bánh này được chia trác như thế nào, ai là người được hưởng lợi từ vụ việc trên, đang đặt cho dư luận nhiều câu hỏi?

Đọc tiếp »

ThS.NGUYỄN THANH TÚ

Đại học Luật Hà Nội

1. Khái quát chung về đại lý thuế

Đại lý thuế được hiểu đơn giản là cầu nối giữa người nộp thuế với cơ quan thuế giúp cho hoạt động thu nộp thuế diễn ra nhanh gọn, hiệu quả. Trên cơ sở sự ủy quyền của người nộp thuế, đại lý thuế – pháp nhân trung gian giữa người nộp thuế với cơ quan quản lý thuế sẽ thực hiện dịch vụ về thuế như đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục hành chính thuế khác thay người nộp thuế. Sự tồn tại của mô hình đại lý thuế có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý thuế nói chung và thu nộp thuế nói riêng: đại lý thuế không những giúp cho nguồn thu NSNN ổn định, mà còn hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý thuế, tuyên truyền, vận động, giải thích để người nộp thuế hiểu và chấp hành tốt pháp luật thuế.

Nếu như tại nhiều quốc gia như Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, đại lý thuế là một mô hình được quan tâm, có lịch sử phát triển lâu dài, thì tại Việt Nam, đại lý thuế vẫn còn là một khái niệm chưa thực sự quen thuộc. Điều này dễ dàng nhận thấy qua một sự so sánh nhỏ như sau: Tại Cộng hòa liên bang Đức, với dân số 82 triệu người có số lượng đại lý thuế là 79.913 người và 8.416 công ty; Nhật Bản một quốc gia đi đầu trong phát triển các tổ chức hỗ trợ kê khai thuế tính đến cuối tháng 3 năm 2012 đã có tới 72.635 đại lý thuế là thể nhân, 2.366 đại lý thuế là pháp nhân so với dân số 127 triệu người[1]. Trong khi đó Việt Nam với dân số 88 triệu người tính đến tháng 6/2012 mới có 1.179 người được cấp chứng chỉ hành nghề đại lý thuế, trong đó thực tế chỉ có 243 người làm việc tại 105 Đại lý thuế, số còn lại đang làm việc tại các Công ty chưa có đăng ký hành nghề[2]. Rõ ràng, Việt Nam đang rất “chậm chễ” trong phát triển mô hình có tính tiện ích cao này, trong khi chúng ta là một quốc gia theo đánh giá có thủ tục về thuế phức tạp cùng với trình độ dân trí còn thấp, nhu cầu về sự tồn tại của một mô hình hỗ trợ hoạt động kê khai và các thủ tục hành chính về thuế khác là rất cần thiết.

Tại Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ làm thủ tục về thuế được công nhận và điều chỉnh lần đầu tiên tại Luật Quản lý thuế năm 2006, với tên gọi tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Trước đó các hoạt động mang tính chất dịch vụ tư vấn thuế đã được thực hiện bởi các công ty kiểm toán, các doanh nghiệp và cá nhân làm dịch vụ kế toán[3], công ty tư vấn và văn phòng luật sư. Bởi tính chất tự phát và chưa được điều chỉnh nên trong nhiều trường hợp hoạt động tư vấn thuế có những biến tướng gây thiệt hại đến nguồn thu của nhà nước từ thuế. Sau khi Luật Quản lý thuế và một số văn bản ban hành điều chỉnh trực tiếp việc tổ chức, hoạt động của thiết chế trung gian này như Thông tư số 28/2008/TT-BTC hướng dẫn đăng ký hành nghề và quản lý hoạt động hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế, việc tổ chức thi, cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế; Quyết định số 316/QĐ-BTC ngày 17/02/2009 ban hành Quy chế thi cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế và gần đây nhất, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 117/2012/TT-BTC ngày 19/7/2012 thay thế Thông tư số 28/2008/TT-BTC hướng dẫn về hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế. Có thể nói, sự ra đời của các văn bản pháp lý liên quan đến mô hình đại lý thuế trong thời gian qua đã tạo lập được cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho sự hình thành và phát triển theo chiều sâu, chuyên nghiệp hóa của các đại lý thuế thông qua các quy định về điều kiện thành lập; trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh; quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng như quy định về việc chấm dứt hoạt động của đại lý thuế; quy định về nhân viên đại lý thuế. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách cụ thể và chi tiết, các quy định pháp luật điều chỉnh mô hình đại lý thuế vẫn chưa hoàn thiện, bộc lộ nhiều hạn chế, từ đó tác động không nhỏ đến sự phát triển, nhân rộng mô hình này tại Việt Nam.

2. Những hạn chế bất cập của pháp luật về đại lý thuế ở Việt Nam.

Đọc tiếp »

Bài 1: Điều tiết thị trường BĐS: Những bất cập từ chính sách thuế

Tác giả: TS. Lê Xuân Trường

Thời báo Ngân hàng điện tử, http://www.thoibaonganhang.vn, ngày 19/03/2012

Ngoài việc đem lại một khoản thu nhất định cho ngân sách nhà nước, thuế đối với BĐS trong thời gian vừa qua đã có vai trò nhất định trong việc điều tiết hoạt động của thị trường bất động sản (BĐS) theo các quan điểm và mục tiêu của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên tác động điều tiết của chính sách thuế đối với thị trường BĐS cũng còn những hạn chế nhất định.

Tìm điểm yếu của thuế

Điều này có thể nhìn thấy rõ trong vai trò điều tiết thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội chưa được phát huy đúng mức. Trong thuế nhà đất (từ năm 2011 về trước) và thuế sử dụng đất phi nông  nghiệp (từ năm 2012 trở đi) chưa đánh thuế nhà. Mức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lũy tiến vào giá trị quyền sử dụng đất chưa đủ lớn (0,07% và 0,15%) để điều tiết mạnh mẽ vào thu nhập của người sở hữu nhiều BĐS.

Đối với mức thu thuế đất thấp (cả đối với thuế nhà, đất trước đây và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp  hiện hành), thuế đất chưa thúc đẩy các tổ chức, cá nhân trong xã hội sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả. Lý do đơn giản là  vì chủ sử dụng đất không bị thúc bách bởi việc phải sử dụng đất sao cho có thể mang  lại thu nhập để nộp thuế hàng năm, bởi vậy khả năng sinh lời của đất không biến thành sự sinh lời thực tế. Đất không được sử dụng hết hiệu suất cho sản xuất, kinh doanh, thậm chí còn bị bỏ trống, lãng  phí  nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia.

Hơn thế, xét về vai trò điều tiết thị trường BĐS. Mức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (áp dụng từ năm 2012) chưa đủ lớn để thúc đẩy các cá nhân nhanh chóng đưa BĐS ra giao dịch trên thị trường, góp phần tạo nên sự khan hiếm giả tạo về cung trên thị trường BĐS.

Tăng thuế suất đối với đất ở ngoài hạn mức

Đọc tiếp »

1. Khái niệm về Thuế thu nhập doanh nghiệp

Là loại thuế trực thu mà đối tượng chịu thuế là thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh nghiệp và các tổ chức có hoạt động kinh doanh được quy định trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Thuế thu nhập doanh nghiệp không được coi là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

- Mục đích chính của loại thuế này là tái phân phối thu nhập giữa doanh nghiệp và nhà nước, nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách phục vụ lợi ích chung của xã hội.

Trước thời điểm 1/1/2009, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) còn áp dụng đối với cá nhân có hành vi sản xuất, kinh doanh, cá nhân hành nghề độc lập hoặc có tài sản cho thuê. Tuy nhiên, sau thời điểm 1/1/2009, những chủ thể này chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân. (x. thuế thu nhập cá nhân)

2. Khái quát về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008

Đọc tiếp »

A. QUY ĐỊNH CHUNG

I. MỤC ĐÍCH CỦA QUY TRÌNH

Tạo sự thống nhất trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong toàn ngành Hải quan nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quản lý cán bộ, công chức thanh tra thuế trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

II. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

1. Quy trình này quy định về trình tự, thủ tục và nội dung tiến hành một cuộc thanh tra thuế, bao gồm: chuẩn bị thanh tra, tiến hành thanh tra và kết thúc thanh tra. Tùy theo yêu cầu, tính chất của từng cuộc thanh tra có thể áp dụng toàn bộ hoặc từng nội dung của quy trình này.

2. Quy trình này được áp dụng cho Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện thanh tra thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

3. Đối tượng thanh tra thuế: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm: Cơ quan hải quan và người nộp thuế.

B. QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Đọc tiếp »

TS. DƯ NGỌC BÍCH

Khoa Kinh tế – Luật, Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

 Thời gian gần đây, dư luận đề cập nhiều đến việc một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài bị nghi ngờ thực hiện hành vi chuyển giá để trốn thuế (điển hình là Công ty Coca-Cola Việt Nam). Nhiều ý kiến bức xúc khi các doanh nghiệp này kinh doanh nhiều năm ở Việt Nam, liên tục kê khai lỗ nhưng lại mở rộng kinh doanh, tăng doanh thu. Có doanh nghiệp có lỗ cộng dồn lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu. Nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu cơ sở pháp lý, do Luật Đầu tư sơ hở, hay do giao dịch của doanh nghiệp quá đặc thù làm cơ quan thuế bất lực?… Chúng tôi xin bàn đến góc độ khả năng thực thi pháp luật của cơ quan thuế.

1. Cơ sở pháp lýChống chuyển giá và khả năng thực thi pháp luật của cơ quan thuế

Có thể liệt kê các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề liên quan đến chuyển giá như Luật Quản lý thuế 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012); Luật Giá 2012; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008; Thông tư 66/2012/TT-BTC (Thông tư 66 – hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết), trong đó đặc biệt là Thông tư 66 điều chỉnh chi tiết và trực tiếp nhất.

Mục đích của Thông tư 66 là hướng dẫn thực hiện các quy định về việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết làm căn cứ kê khai xác định nghĩa vụ thuế thu nhập của cơ sở kinh doanh. Thuật ngữ “giá thị trường” được giải thích là “để chỉ giá sản phẩm theo thỏa thuận khách quan trong giao dịch kinh doanh trên thị trường giữa các bên không có mối quan hệ liên kết (các bên độc lập)”. Như vậy, các doanh nghiệp có mối liên hệ liên kết khi giao dịch với nhau phải thực hiện theo giá thị trường như với các bên độc lập (arm’s length principle).

Đọc tiếp »

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế:

1. Bổ sung các khoản 4, 5 và 6 vào Điều 4 như sau:    

“4. Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế:

a) Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế;

b) Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế.

5. Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau:

a) Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục;

b) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;

c) Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử;

d) Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê;

đ) Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm theo mức quy định.

6. Chính phủ quy định chi tiết khoản 4, khoản 5 Điều này.”

2. Bổ sung các khoản 10, 11 và 12 vào Điều 5 như sau:

Đọc tiếp »

NGUYỄN BÁ PHÚ

Cục thuế Thanh Hóa

Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, đánh vào sản phẩm khai thác chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, như: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩm của rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật);… Tài nguyên thiên nhiên khác. Trên thực tế, để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước, Nhà nước ta đã áp dụng một cách hợp lý việc huy động thuế với cách điều tiết thông qua giá tính thuế và thuế suất. Việc điều chỉnh chính sách thuế tài nguyên cũng là yêu cầu được đặt ra thường xuyên nhằm làm cho hành lang pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp hơn. Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 là một bước quan trọng hoàn chỉnh pháp luật về thuế Tài nguyên. Cùng với Luật thuế Tài nguyên 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên. Bộ Tài chính trong phạm vi chức năng của mình cũng đã ban hành Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ. 
Thứ nhất, những khác biệt giữa qui định mới và cũ

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Những kẻ âm mưu và những kẻ chuyên quyền mọi thời đại đều vô cùng thích lạm dụng những lời lẽ về ý chí quốc gia. Những kẻ âm mưu thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu mua được bởi một vài người có thế lực trong chính quyền. Những kẻ chuyên quyền thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu của thiểu số dân đi bỏ phiếu vì tham hoặc vì sợ. Cái ý chí đó còn thể hiện trong sự im lặng của người dân và cho rằng từ sự phục tùng trên thực tế nảy sinh cho họ cái quyền chỉ huy."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được "hóa giá" với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng "nghe rất là buồn".

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

"Rất là buồn", nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,034,352 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers