You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat thue’ category.

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 22 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Đọc tiếp »

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011,­­ Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế

clip_image003

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Luật sửa đi, bổ sung một số điu của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010;

Căn cứ Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

Thực hiện cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

Đọc tiếp »

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở Báo cáo của Bộ Tài chính (Tờ trình số 95/TTr-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2014), thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp thường kỳ, tổ chức ngày 30, 31 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

I. CÁC GIẢI PHÁP VỀ THUẾ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:

1. Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp.

2. Gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với dự án đầu tư chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã ghi trong dự toán ngân sách nhà nước, số thuế được gia hạn không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước còn nợ và thời gian gia hạn không vượt quá thời gian ngân sách còn nợ.

3. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chỉ trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng theo quy định; tổng số chi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện.

Đọc tiếp »

PGS., TS. CHÚC ANH TÚ – Học viện Tài chính

Luattaichinh: bình luận về tác giả hoặc nội dung bài viết là không đúng với tiêu chí của Luattaichinh. Nhưng với bài viết này, cần phải có hai nhận xét: 1) Nội dung bài viết của tác giả chỉ thuần túy cung cấp thông tin, không có vấn đề học thuật; 2) Công thức xác định thu nhập tính thuế được đưa trong bài là không chính xác: thứ nhất, lỗ kết chuyển được trừ đi khỏi thu nhập chịu thuế chứ không phải cộng vào; thứ hai, DN có thể được trừ đi  thêm một khoản, đó là trích lập Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ theo Thông tư 15/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Sau đây là toàn văn bài viết:

Trước thực tế phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế, bài viết này sẽ tập trung phân tích làm rõ hơn các khoản thu nhập theo quy định hiện hành đã làm phát sinh chênh lệch với mục đích giúp những đối tượng quan tâm có được cái nhìn đơn giản hơn về vấn đề này.

Luật số 32/2013/QH 13 ngày 09/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN); Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN; Thông tư 78/2014/TT – BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ – CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. Những quy định hiện hành trên, đã làm phát sinh những khoản chênh lệch (chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn) giữa kế toán và thuế:

Công thức xác định thuế TNDN như sau:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ, bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà DN được hưởng không phân biệt đã thu hay chưa thu được tiền. Một số điều khoản quy định của Luật thuế TNDN và của kế toán có sự khác biệt dẫn đến phát sinh khoản chênh lệch, đó là:

Đọc tiếp »

PHAN HUY CHÚ

Luattaichinh: Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú được xem là Bách khoa toàn thư thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Những thông tin và lời bàn của ông cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có những quan niệm khá hiện đại về thuế và quản lý thuế khá chặt chẽ, cùng thời điểm Châu Âu bắt đầu bình minh của khoa học kinh tế. Tuy nhiên, việc kỳ thị đối với hoạt động thương mại là một hạn chế lớn trong quản lý kinh tế thời kỳ này.

Sau đây là phần I của phần Quốc dụng chí (Quyển XXXI).

———————————————————

ĐÁNH THUẾ CHUYÊN LỢI

THUẾ CHUYÊN LỢI VỀ QUẾ

Lê Dụ Tông, năm Vĩnh thịnh thứ 11[1715], thả lệnh cấm về vỏ quế, cho nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép nhân dân được thông hành buôn bán. Cho phép các nơi có thổ sản được bóc nộp, cho người thuê bóc một nửa, nộp vào nhà nước một nửa. Người thuê bóc được 500 cân thì cho 50 quan tiền mà trưng mua số quế.

Năm Bảo – thái thứ 1 [1720], Nhân vương [Trịnh Cương] cùng với tể thần bấy giờ là bọn Nguyễn Công Kháng bàn rằng cây quế là sản vật của nhà nước mà lệ cũ cho nhân dân buôn bán riêng với nhau, mối lợi về bọn lái buôn, việc chi dùng của nhà nước không được lợi gì, bèn định thi hành phép thuế chuyên lợi về quế, sai quan trông nom công việc. Phàm có nhân dân buôn bán tự nguyện đi bóc quế thì phải làm tờ khai xin phép và cung tiến lễ mừng. Quan giám đương hầu chỉ cấp bằng cho làm quế hộ. Các quế hộ vào rừng lấy quế, trước hết phải đến quan trình bằng và nộp lễ mừng 10 quan tiền quý. Quan hỏi người ấy định đi lấy quế ở địa phương nào, rồi làm giấy cho phép điền rõ số đi lấy là bao nhiêu cân, lại sai người đi trước đến báo cho xã dân ấy biết, cho sao bản giấy phép giữ lấy làm bằng để tiện xét nghiệm, rồi quế hộ mới được đi lấy quế. Số quế lấy được bao nhiêu cân, lại báo cho xã dân ấy ghi chép làm bằng, đem đựng vào sọt, mỗi sọt nặng 100 cân, đem đến trình quan bản trấn cân lại đúng số rồi cấp cho bài chỉ rõ ràng. Khi đi đường qua các quan tuần y, cứ chiếu bài chỉ kiểm tra lại thấy đúng số thì cấp giấy cho đi. Khi đến kinh đô, đem bài chỉ của trấn quan và giấy của tuần ty trình quan giám đương chiếu số kiểm lại đúng rồi bổ thuế. Cứ mỗi 100 cân định giá là 100 quan tiền quý thì đánh thuế 5 phần 10, rồi cho quế hộ đem về cất giữ. Khi nào có thuyền buôn đến mua, thì làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cần thì tính theo thời giá chuẩn cho nộp thuế, cứ mỗi 100 cân quế định giá 100 quan tiền quý thì đánh 5 phần 10, tức 1 quan tiền quý thì nộp 5 tiền. Quế hộ đem số quế phần của mình cất giữ tính thuế mà bán ra. Khách buôn khi trở về thì trấn quan sai binh lính đưa ra khỏi địa hạt, cứ mỗi lần phải nộp lộ phí 10 quan tiền quý.

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
- Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
- Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

NGUYỄN DUY NHÂN

Chúng ta đang sống trong một đất nước mà bia, rượu, thuốc lá được bán rẻ mạt. Những thứ độc hại này không những giết dần giết mòn tất cả những người sử dụng mà còn gián tiếp gây bao tác hại khôn lường cho hàng chục triệu người xung quanh.

Khi đọc những tin tức đại loại như “giá bia Việt Nam rẻ nhất thế giới”, “Việt Nam thuộc top những nước tiêu thụ bia nhiều nhất thế giới” hoặc “giá nông sản từ Đà Lạt về HCM tăng gấp chục lần”, xăng tăng giá, sữa bột tăng giá, ăn uống tăng giá, người lao động lao đao… các bạn có cảm giác như thế nào?

Tôi là người được may mắn thường xuyên công tác và du lịch bụi nước ngoài. Bất cứ khi nào có dịp, tôi lại quan sát, so sánh giá cả với Việt Nam và cảm nhận.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ lấy ví dụ cụ thể về sự khác biệt kỳ dị trong tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người với giá bia, giá thuốc lá, giá bữa ăn hàng quán hàng ngày và giá sữa tươi tại Việt Nam và tại Singapore. Tất cả đều có hình minh họa kèm theo.

Tại các quán ăn bình dân, tập trung đa số dân văn phòng ngay các khu trung tâm Singapore, giá một bữa ăn trưa có chất lượng tươm tất, bắt mắt như cơm gà, mì, bún … hiện dao động  từ 4 đến 5 SGD (đôla Singapore , bằng khoảng 17.000 đồng VN) .

Giá một chai bia cùng nhãn hiệu và dung tích tại Việt Nam ngay quán ăn đó hoặc các quán nhậu bình dân tương đương là 7 SGD .

Đọc tiếp »

Luật gia TRẦN VŨ HẢI

Tổng Cục Thuế có công văn số 1133/TCT-TNCN trả lời vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS trong đó giải thích về việc một bên ủy quyền cho người khác toàn quyền quản lý, chuyển nhượng đối với bất động sản thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mục đích của công văn này là hướng dẫn các cơ quan thuế phòng tránh việc trốn thuế chuyển nhượng bất động sản bằng cách không lập hợp đồng mua, bán mà là hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, người viết cho rằng công văn này là trái những nguyên tắc chung của pháp luật vì những lý do chính sau đây:

1. Tổng Cục thuế cho rằng, những người đủ năng lực dân sự để thực hiện giao dịch thì không thể được ủy quyền, mà luôn coi ủy quyền này là mua, bán là một suy diễn vô lý. Một là, nếu không đủ năng lực dân sự thì không thể ủy quyền được. Hai là, ủy quyền là quyền năng dân sự được Bộ luật Dân sự cho phép, không thể bị hạn chế trong những trường hợp thông thường.

2. Pháp luật thuế không giải thích việc ủy quyền dân sự theo hướng này, việc Tổng Cục thuế giải thích một cách áp đặt, không có trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng đồng nghĩa với việc cơ quan này lạm quyền ban hành quy định, trong khi đó, trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật phải thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

3. Mặc dù trên thực tế, việc lợi dụng hợp đồng ủy quyền để trốn thuế Thu nhập cá nhân đáng bị xử lý, nhưng Tổng Cục thuế không được quyền đánh đồng mọi hợp đồng ủy quyền đều là giao dịch giả tạo. Việc trốn thuế cần phải được cơ quan quản lý thuế chứng minh bằng những bằng chứng đáng tin cậy, việc võ đoán theo kiểu "nhìn mặt, bắt hình dong" là xâm phạm đến nguyên tắc tự do của công dân.

4. Và ngay cả đối với giao dịch giả tạo, thì chức năng tuyên một hợp đồng vô hiệu do giả tạo cũng thuộc về cơ quan Tòa án, chứ không phải là cơ quan thuế.

———————————–

Sau đây là toàn văn công văn 1133/TCT-TNCN

Đọc tiếp »

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Để áp dụng đúng và thống nhất các qui định của Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau:

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác qui định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

ThS LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Hiện nay tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đạt mức 0,6% GDP, trong đó, chủ yếu từ ngân sách nhà nước (0,5% GDP). Mức đầu tư này hiện đang thấp hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho KH&CN là 3,3% GDP, Hàn Quốc là 3%, Mỹ 2,7%, Đức 2,3%, Singapore 2,2%). Do vậy, việc gia tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN, đặc biệt, việc huy động từ phía doanh nghiệp là vấn đề quan trọng đang được đặt ra. Một trong những hình thức huy động được áp dụng là khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN để phục vụ cho việc đổi mới công nghệ tại chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thành lập loại hình Quỹ này ở nước ta hiện còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Đặt vấn đề

Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là một trong những loại hình Quỹ được đề cập đầu tiên tại nước ta trong Luật KH&CN [1] năm 2000. Điều 38.2 Luật KH&CN quy định: “Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN”. Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) (2006) [2], Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) [3] tiếp tục bổ sung và đưa ra những quy định cụ thể. Trên cơ sở quy định của các Luật trên, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể: Quyết định 36 [4], Thông tư 15 [5], Thông tư 105 [6]. Có thể nói, đây là các văn bản pháp lý quan trọng để Quỹ hình thành và đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tại Hội thảo về việc triển khai thực hiện Quỹ trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 26.4.2013 [7]: “Việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, ít về số lượng (khoảng 15%), lại không đồng đều, như tại Bình Phước có doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế chỉ được khoảng 20 triệu đồng, có doanh nghiệp lại lên đến 189 tỷ đồng”.

Đọc tiếp »

NGÔ QUANG TRUNG

1. Tóm lược về FDI tại Việt Nam

Trải qua 25 năm hoạt động, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam là khó rõ nét và đã được khẳng định: hiện nay có 15.067 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung quan trọng cho tổng vốn đầu tư xã hội. Các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống cho người lao động.

Bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, FDI cũng đã và đang bộc lộ những vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng. Gần đây, đã xuất hiện hàng loạt sự việc tác động xấu đến sự phát triển của Việt Nam, gây bức xúc cho dư luận xã hội, trong đó nổi bật lên là chuyển giá, trốn thuế, tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đến môi trường đầu tư.

2. Một số hình thức chuyển giá cơ bản của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và các doanh nghiệp FDI trên thế giới.

Hiện tượng chuyển giá hầu như đều xảy ra đối với các công ty đa quốc gia. Tại Việt Nam, hiện tượng chuyển giá đã xuất hiện và ngày càng nhiều tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đọc tiếp »

Tại Thông tư số 219/2013/TT- BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT đã nêu rõ các đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1-1-2014.

9 đối tượng được hoàn thuế

Thứ nhất, cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo. Trường hợp lũy kế sau ít nhất 12 tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc sau ít nhất 4 quý tính từ quý đầu tiên phát

sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế.

Thứ hai, là cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm (12 tháng) trở lên  thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm.

Đọc tiếp »

Các đại gia FDI dính án chuyển giá ngàn tỷ đều đã được kiểm toán bởi những tập đoàn kiểm toàn hàng đầu thế giới. Bằng cách nào mà âm mưu chuyển giá qua mặt được các chuyên gia kiểm toán quốc tế, hay chính kiểm toán có những ảo thuật để giúp dàn xếp giá tinh vi giữa các ông lớn để cùng kiếm lợi?.

“Mẹ con” lòng vòng dàn xếp giá

Tại một cuộc hội thảo về đầu tư ở Đà Nẵng cuối năm ngoái, ông Iwama Shinichi, Chủ tịch Công ty Daiwa Seiko, Chủ tịch Chi hội DN Nhật tại Đà Nẵng cho biết, năm 2007, Daiwa Việt Nam có 400 nhân viên với doanh thu đạt 300 triệu USD, đến nay số nhân viên tăng gấp 5 lần và doanh thu tăng gấp 10 lần.

Được cấp phép từ 9/2005, DaiWa Việt Nam – công ty con của Tập đoàn Daiwa Seiko, Nhật Bản được coi là thế hệ FDI tiên ở Đà Nẵng. Tháng 6/2008, Daiwa Việt Nam đã khánh thành giai đoạn 2 nhà máy sản xuất dụng cụ thể thao lớn nhất thế giới của Tập đoàn Daiwa tại KCN Hòa Khánh, Đà Nẵng với vốn đầu tư 35 triệu USD.

Thoạt nghe, ai cũng tưởng DN này đóng góp lớn cho ngân sách Đà Nẵng. Thế nhưng, có đến cơ quan thuế mới té ngửa, trong giai đoạn 3 năm 2007-2009, DN này đã có số lỗ lũy kế lên tới 319 tỷ đồng.

Đọc tiếp »

(Tài chính) Trong suốt 4 năm qua, để thực hiện được hành vi xuất khống hàng chục, hàng trăm ngàn thùng rượu sang thị trường Lào, công ty Halico đã triển khai hết sức chặt chẽ.

    Rượu Hà Nội kiếm lãi khổng lồ nhờ buôn lậu

Trong suốt 4 năm, công ty Halico đã thực hiện được hành vi xuất khống rượu sang thị trường Lào. Nguồn: internet

Sau khi khởi tố vụ án hình sự về tội “Buôn lậu” xảy ra tại Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội (công ty Halico) và công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Hoàng Lân (công ty Hoàng Lân), cơ quan Hải quan tiếp tục mở rộng điều tra phát hiện từ năm 2008 đến năm 2012, Halico đã cùng với “sân sau” là công ty Hoàng Lân làm khống nhiều hồ sơ hải quan để làm các thủ tục và thực xuất rượu Vodka sang Lào. Lợi nhuận từ những phi vụ phi pháp của Halico là bao nhiêu, miếng bánh này được chia trác như thế nào, ai là người được hưởng lợi từ vụ việc trên, đang đặt cho dư luận nhiều câu hỏi?

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Một 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 10    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,152,157 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 141 other followers