You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Ngan sach Nha nuoc’ category.

ThS. VĨNH SANG

Mặc dù chưa có khuôn khổ pháp lý (Nghị định của Chính phủ) về nghiệp vụ quản lý ngân quỹ nhưng để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác thanh toán, cuối tháng 7/2013 vừa qua, Tổng giám đốc KBNN đã ban hành “Quy trình nghiệp vụ thí điểm thanh toán song phương điện tử (TTĐTSP) giữa KBNN và Ngân hàng Thương mại” theo Quyết định 699/QĐ-KBNN. Việc thực hiện Quyết định này được xem như là bước khởi đầu của lộ trình hình thành tài khoản thanh toán tập trung của KBNN (gọi tắt là TSA), tạo điều kiện thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ theo chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020.

Theo kế hoạch, nghiệp vụ TTĐTSP được triển khai theo từng giai đoạn tương ứng với từng hệ thống NHTM (Vietinbank, BIDV, Agribank, Vietcombank) và không cùng lúc với thời điểm triển khai mở rộng nghiệp vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH). Với kế hoạch như vậy thì trong từng giai đoạn triển khai sẽ đồng thời tồn tại hai hệ thống thanh toán cũ (phân tán) và mới (tập trung) và sẽ làm cho đường đi của dòng tiền vốn KBNN trở nên phức tạp.

Một cơ chế quản lý và điều hành vốn KBNN cụ thể trong từng giai đoạn triển khai nghiệp vụ TTĐTSP là rất cần thiết để điều chỉnh dòng tiền vốn KBNN hoạt động thông thoáng, phục vụ tốt nhất cho các giao dịch thu, chi qua các đơn vị KBNN.

Thực trạng công tác thanh toán giữa KBNN cấp huyện và chi nhánh NHTM hiện nay

Đọc tiếp »

Thực tiễn thời gian qua đặt ra khá nhiều yêu cầu về hiệu quả của quản lý chi tiêu công ở nước ta như: đầu tư công dàn trải, phân bổ vốn chậm, tỷ lệ đầu tư cao, tăng trưởng kinh tế thấp, cơ chế quản lý chất lượng, hiệu quả đầu tư còn lỏng lẻo, sự lãng phí các nguồn lực ở các doanh nghiệp nhà nước, sự kém hiệu quả về kinh tế – xã hội của các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án,… Điều này đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải có những tiêu chí rõ ràng khi đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư để từ đó phát hiện, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những lãng phí, kém hiệu quả đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong kiểm toán các Dự án đầu tư xây dựng công trình vẫn còn gặp một số khó khăn:

Thứ nhất, đặc thù công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, đặc biệt là các công trình nhóm A, B nên việc so sánh tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả giữa các công trình gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, hầu hết công tác kiểm toán các dự án đầu tư mới chỉ dừng lại ở việc xác định chi phí đầu tư vào công trình, chưa thực sự kiểm toán một giai đoạn, hay một vòng đời của dự án. Do đó, kết quả kiểm toán khó có thể đưa ra ý kiến đánh giá được dự án hiệu quả hay không, có đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không.

Thứ ba, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình nên Kiểm toán Nhà nước (KTNN) chủ yếu thực hiện kiểm toán các công trình công. Do đó, khó đánh giá được lợi ích kinh tế tính được bằng tiền, nhiều công trình mang yếu tố chính trị, xã hội. Tính kinh tế hay không phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của kiểm toán viên.

Thứ tư, kinh nghiệm về kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam chưa nhiều.Hiện nay, KTNN chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về phương pháp xây dựng các tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong kiểm toán hoạt động.

Thứ năm, hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành liên quan về quản lý đầu tư chưa đồng bộ, thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tế.

Thứ sáu, hiểu biết về vai trò, tác dụng của kiểm toán hoạt động tại các đơn vị được kiểm toán chưa cao.Điều này tạo ra những khó khăn vướng mắc trong việc phối hợp xây dựng tiêu chí kiểm toán cho các cuộc kiểm toán hoạt động của KTNN trong những năm tới đây.

Một số chỉ tiêu cơ bản trong xây dựng tiêu chí kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình

Đọc tiếp »

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi NSNN được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán năm 2012 về niên độ ngân sách năm 2011 lại cho thấy, việc sử dụng kinh phí sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức tại các Bộ, ngành, địa phương lại có chiều hướng gia tăng.

Nhiều địa phương chi thường xuyên vượt dự toán

Kết quả kiểm toán việc sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên tại các Bộ, ngành, địa phương cho thấy, 21/28 địa phương được kiểm toán còn sử dụng sai nguồn kinh phí 1.840,4 tỷ đồng; 3/28 địa phương sử dụng sai nội dung nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên 9 tháng cuối năm; 16/28 tỉnh, thành phố chi hỗ trợ không đúng chế độ, nhiệm vụ chi 41,6 tỷ đồng; 28/28 địa phương được kiểm toán chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức là 196 tỷ đồng… Đáng chú ý là có tới 23/28 tỉnh, thành phố được kiểm toán đều chi thường xuyên vượt dự toán được HĐND giao đầu năm, trong đó 13/28 địa phương chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể vượt trên 30%; trong điều hành ngân sách còn sử dụng 386 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, nguồn thu tiền sử dụng đất, nguồn cải cách tiền lương, dự phòng… để chi thường xuyên sai quy định.

Đối với việc sử dụng nguồn dự phòng ngân sách, năm 2011 ngân sách Trung ương đã sử dụng dự phòng 9.400 tỷ đồng. Qua kiểm tra, đối chiếu vẫn còn 15/28 địa phương được kiểm toán sử dụng dự phòng cho một số nhiệm vụ chưa thực sự cấp bách như chi thường xuyên, chi hỗ trợ, chi bổ sung Quỹ Thi đua khen thưởng, chi sửa chữa mua sắm tài sản 238,6 tỷ đồng. Đặc biệt, trong khi hàng năm, NSNN vẫn phải đi vay và trả lãi thì việc cho vay sai quy định vẫn diễn ra phổ biến, 27/28 tỉnh được kiểm toán cho vay, tạm ứng kéo dài nhiều năm, chậm thu hồi 4.166 tỷ đồng; trong đó cho vay sai quy định 33 tỷ đồng, tạm ứng sai quy định 1.125 tỷ đồng, cho vay, tạm ứng chậm thu hồi 3.008 tỷ đồng.   

Năm 2011, Chính phủ sử dụng 1.020 tỷ đồng từ nguồn vượt thu và số dư dự toán chi ngân sách Trung ương để bổ sung vốn đầu tư phát triển cho các Bộ, ngành và 12.923,5 tỷ đồng để bổ sung vốn đầu tư phát triển cho các địa phương. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tăng thu không đúng quy định tại các địa phương chưa có chuyển biến tích cực, 14/28 địa phương được kiểm toán còn sử dụng 325 tỷ đồng nguồn tăng thu để chi thường xuyên, mua tài sản, hỗ trợ các đơn vị, chi trả nợ tạm ứng vốn nhàn rỗi.

Chi chuyển nguồn gia tăng

Đọc tiếp »

PGS, TS. ĐẶNG VĂN THANH

CHỦ TỊCH HỘI KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM

Tham luận này được tác giả trình bày tại Tọa đàm góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Ngân sách nhà nước, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, ngày 14/01/2014, Hà Nội.

Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16-12-2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Đến nay Luật đã thực hiên đước hơn 8 năm và đang trong năm tài khóa thứ 9. Qua hơn 8 năm thực hiện Luật đã đi vào cuộc sống đã phát huy mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo phát triển NSNN nhanh và vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – ngân sách được phân cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách phù hợp với tiến trình cải cách hành chính Nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách; chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn phát triển tới. Điều thấy rõ nhất là quy mô ngân sách cứ 5 năm sau lại gấp hai lần số thu 5 năm trước. Bản thân Luật NSNN năm 2002 và thực tế đã cho thấy Luật bảo đảm các nguyên tắc cơ bản :

- Phù hợp và cụ thể hoá những sửa đổi, bổ sung có liên quan trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 (tháng 11,12/2001) thông qua;

- Quản lý tập trung thống nhất NSNN, bảo đảm quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời, tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương;

- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương theo hướng tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương và thúc đẩy địa phương phấn đấu để chủ động cân đối ngân sách. Tăng cường tính chủ động, gắn với trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị trong quản lý ngân sách và tài sản nhà nước; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng ngân sách với trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của bộ, ngành, địa phương, đơn vị.

- Thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, thực hiện và quyết toán ngân sách. Thực hiện công khai, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý NSNN. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi NSNN qua các quy định về tăng cường trách nhiệm, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán gắn với xử lý vi phạm.

Về sự cần thiết và quan điểm định hướng sửa đổi bổ sung

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN MINH TÂN

Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính – Ngân sách của Quốc hội

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, giám sát là một hình thức hoạt động nhằm bảo đảm pháp chế và sự tuân thủ những quy tắc chung trong xã hội. Các hoạt động kinh tế, tài chính và ngân sách giữ vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, vì thế việc giám sát các hoạt động này là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Quy trình giám sát ngân sách nhà nước

Giám sát ngân sách nhà nước (NSNN) góp phần quan trọng vào việc đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NSNN. Kết quả giám sát NSNN chỉ ra mức độ chấp hành, tuân thủ những luật lệ, quy chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước. Do đó, giám sát NSNN là việc theo dõi, kiểm tra thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm xác định tình trạng NSNN, từ đó phát hiện sớm các vấn đề và có hướng xử lý kịp thời.

Hiện nay, việc giám sát NSNN tại Quốc hội được thực hiện theo quy trình lập và thẩm tra các báo cáo về dự toán NSNN, quyết toán NSNN. Cụ thể được xác định như sau: (i) Tại kỳ họp cuối năm (thường là kỳ chẵn và khai mạc vào khoảng 20/10 hàng năm): Quốc hội sẽ xem xét, quyết định dự toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) năm sau (còn gọi là năm kế hoạch/năm dự toán) trước ngày 15/11; (ii) Tại kỳ họp giữa năm (thường là kỳ lẻ và khai mạc vào khoảng 19/5): Quốc hội sẽ xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN (sau khi năm ngân sách đã kết thúc 18 tháng).

Các tài liệu chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội (bao gồm: Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính – Ngân sách, Báo cáo giám sát và Báo cáo thuyết minh có liên quan) phải được gửi đến đại biểu quốc hội trước 10 ngày kể từ ngày dự kiến khai mạc kỳ họp Quốc hội.

Đọc tiếp »

Chính sách tài khóa: Hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phải triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế).

Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt.

Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.

Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc

(ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc

(iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế.

Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm. Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫn đến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc

(ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc

(iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế.

Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao. Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó

Nguồn: Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb.Tư Pháp, Hà Nội.

Luattaichinh bình luận: Đây là vấn đề y tế và y đức, lẽ ra không đăng ở luattaichinh. Nhưng bài viết khá hay, lại đề cập đến quy định chi ngân sách và vấn đề tham nhũng, nên cũng có chút ít dính dáng. Bản thân đồng tiền không lạnh, mà lạnh ở tay những ai cầm tiền, dù để trao hay được nhận.

Bài viết với tiêu đề nêu trên được đăng tải trên TuanVietNam, ngày 24/8/2013:

Nói theo cách nói của tâm linh, năm 2013 này là năm ngành y gặp "hạn" nặng. Dồn dập hàng loạt vụ việc scandal tiêm văc xin, sản phụ không qua được cửa tử do "tắc mạch ối" (theo kết luận của ngành). Gần đây là những chiêu lừa đảo khó tin của các phòng khám tư nhân, và nhất là vụ "nhân bản xét nghiệm máu" của Bệnh viện Hoài Đức (Hà Nội) gây chấn động cả xã hội.

Con tim gặp sự… lạnh lẽo

Bệnh viện Hoài Đức, nhân bản xét nghiệm, y đức, Hoàng Thị Nguyệt, tham nhũng, cấp phép khai khoáng, tài nguyên khoáng sản

Còn nói theo cách nói của duy vật biện chứng, người ta phải đặt câu hỏi: Vì sao, vật chất xã hội ngày càng đi lên, nhân tính lại đi xuống?

Bởi y tế là ngành "cứu nhân độ thế". Người dân chỉ đến BV khi ốm đau, không còn có thể nương tựa vào đâu để có thể khỏi bệnh, hoặc thoát chết. Dù không thể phủ nhận nơi đâu cũng có những người thầy thuốc tử tế, nhân bản, làm việc tận tụy với bổn phận. Thế nhưng một khi ngành "cứu nhân độ thế" trở thành tâm điểm dư luận xã hội bất bình trước hàng loạt scandal, bởi thiếu cả lương tâm lẫn nhân tính với sinh mạng con người, thì câu hỏi trên không thừa.

Dư luận xã hội chưa hết bàn luận xung quanh lễ khen thưởng 320 nghìn đồng/ người cho 03 chị Hoàng Thị Nguyệt, Khuất Thị Định và Phan Thị Nam Đông, những nữ nhân viên của BV Hoài Đức dũng cảm lôi những hành vi tiêu cực ra ánh ngày, với những lời bình- mà nếu Sở Y tế HN đọc- được in đầy trên mặt báo, nên biết đỏ mặt.

Đọc tiếp »

TS. VŨ SỸ CƯỜNG

Phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền là nội dung cốt lõi trong phân cấp quản lý của Nhà nước và đang trở thành chủ đề được quan tâm trong cải cách hoạt động của khu vực công tại nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề này đã được thực hiện từ nhiều năm nay và quy định cụ thể trong Luật Ngân sách nhà nước (NSNN), các văn bản dưới luật. Bài viết đánh giá khái quát tình hình thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong những năm gần đây và đưa ra một số gợi ý cải cách trong giai đoạn sắp tới.

Thực trạng phân cấp ngân sách ở Việt Nam

Tỷ lệ thu ngân sách địa phương (NSĐP) trong tổng NSNN tăng mạnh kể từ sau khi áp dụng Luật NSNN 2002. Nếu không tính thu NSNN từ dầu thô thì thu NSĐP chiếm trung bình hơn 44% tổng thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008.

Tỷ lệ bổ sung từ ngân sách trung ương (NSTW) cho địa phương có xu hướng giảm mạnh, chỉ còn 34,1% cho giai đoạn 2005-2010. So sánh với các nước trên thế giới cho thấy tỷ lệ thu NSĐP trong GDP của Việt Nam đạt 9,9% trong giai đoạn này, cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển. Tỷ lệ chuyển giao ngân sách từ Trung ương cho địa phương của Việt Nam cũng cao hơn mức trung bình của nhóm các nước đang chuyển đổi Đông Âu và Liên Xô (cũ), song thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển.

Đọc tiếp »

TS.NGUYỄN MINH PHONG

Thực trạng phân cấp quản lý đầu tư công còn nhiều bất cập, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Để khắc phục tình trạng trên, bài viết đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước.

Phân cấp và quản lý đầu tư công từ ngân sách nhà nước Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước

Đầu tư công từ ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong 4 nguồn ở Việt Nam và luôn chiếm vai trò quan trọng, nhất là trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả cấp quốc gia và địa phương… Từ năm 2006, hầu hết dự án đầu tư công từ NSNN đã phân cấp về địa phương quản lý, nên hiệu quả đầu tư công mang lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực và quyết định đầu tư của địa phương.
Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, hiện nay, nếu tính cả khoản chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, thì địa phương đang được hưởng khoảng 73% NSNN cho đầu tư phát triển năm 2013, trong khi Trung ương chỉ giữ khoảng 27%. Vì vậy, việc quyết định chi tiêu tại địa phương của HĐND các cấp là đặc biệt quan trọng, nhằm tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế và ngân sách còn nhiều khó khăn.

Thực tế cho thấy, do nhu cầu và lợi ích cục bộ của địa phương, nên các dự án đầu tư công do các địa phương quyết định thường thiếu cân đối với nguồn vốn và bị dàn trải; thiếu kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia, thông qua hệ thống giao thông cao tốc với chi phí cạnh tranh. Không ít dự án chậm đưa vào sử dụng, chất lượng thấp, hạn chế hiệu quả của đầu tư công. Tình trạng tham nhũng, thất thoát và lãng phí dưới mọi hình thức trong mọi dạng đầu tư công có nguy cơ khó kiểm soát. Các nhà thầu nước ngoài chiếm phần lớn các dự án đầu tư công, đẩy các nhà thầu Việt Nam, dù có năng lực cũng thành nhà thầu phụ. Hiệu quả đầu tư công thấp, thúc đẩy lạm phát cao, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công tăng cao.

Đặc biệt, đầu tư công cho các dự án cơ sở hạ tầng giao thông chiếm tỷ trọng áp đảo và lấn át các nguồn đầu tư khác. Các dự án BOT có tỷ lệ vay nợ cao và nhiều dự án được Nhà nước bảo lãnh khiến các dự án này thực chất vẫn là đầu tư công (nhưng chủ đầu tư sẽ quan tâm hưởng lợi ngay trong quá trình xây dựng, chứ không phải là thu hồi vốn sau này và gánh nặng nợ vay khi gặp rủi ro thua lỗ thì Nhà nước vẫn phải gánh chịu). Các quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quản lý nhà nước đối với đô thị và nông thôn. Các cơ quan chức năng còn lúng túng và chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân trong quy trình và thực tế triển khai những nhiệm vụ đã được phân cấp, hoặc chỉ dừng lại ở việc phân cấp nhiệm vụ; chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước.

Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách nhà nước

Đọc tiếp »

KHƯƠNG TIẾN HÙNG

Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành VI

1. Những đặc điểm chủ yếu của các Dự án đầu tư xây dựng tại các doanh nghiệp nhà nước, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước
Hiện nay chúng ta có 1.039 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã nhận được 40% tổng vốn kinh doanh, 30 % tổng vốn tín dụng, 45% tổng giá trị tài sản của khu vực doanh nghiệp (sử dụng vốn NSNN khoảng 700.000 tỷ đồng, vay nợ tín dụng khoảng 415.000 tỷ đồng) nhưng chỉ đóng góp 30% GDP.
Nằm trong khu vực kinh tế Nhà nước, trong những năm qua các Tập đoàn, Tổng công ty (TCT), DNNN đã tích cực huy động nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng. Hiệu quả đầu tư góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, thay đổi diện mạo đất nước và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên có một thực tế là Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động sử dụng các nguồn lực tại các DNNN còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải. Cá biệt còn có các đơn vị sử dụng lãng phí, thất thoát một lượng lớn tiền và tài sản của Nhà nước như Vinashin, Vinaline. Có tình trạng trên là do các dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) tại các DNNN có nhiều đặc điểm riêng biệt, như:
- Quyền tự quyết định của DNNN trong việc quyết định đầu tư các dự án rất cao, trong khi còn thiếu các chế tài giám sát hiệu quả. Theo phân cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch hội đồng thành viên tại Tập đoàn, Tổng công ty đã được quyết định đầu tư đến các dự án nhóm A. Như vậy việc đầu tư do lãnh đạo DNNN tự quyết định mà không phải chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước (theo Nghị định 132 thì chỉ báo cáo người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, chứ không bắt buộc phải báo cáo lên các bộ, ngành).
- Đặc điểm về vốn đầu tư cho các dự án. Nguồn vốn huy động cho dự án từ nhiều nguồn khác nhau như NSNN cấp, nguồn tín dụng bảo lãnh của Nhà nước, vốn trái phiếu, vốn vay ngân hàng thương mại và vốn tự có của DNNN,…Thông thường các dự án của các DNNN sử dụng vốn vay thương mại là chủ yếu, tại nhiều dự án có nguồn vốn vay chiếm quá 70% vốn đầu tư cho dự án. Theo qui định hiện hành, các dự án có vốn Nhà nước <30%, mặc dù về số tuyệt đối là rất lớn, nhưng không bắt buộc phải tuân thủ các qui định liên quan của Nhà nước (mà chỉ khuyến khích áp dụng) như quy định về quản lý chi phí, quy định về đấu thầu…
- Các dự án ĐTXD của DNNN khi hoàn thành phần lớn được bàn giao cho chính DNNN đó sử dụng, do đó bên cạnh mặt tích cực đó là các dự án ĐTXD phù hợp với nhu cầu sử dụng, thuận lợi trong việc bàn giao đưa vào sử dụng,… nhưng còn có mặt hạn chế là dễ dãi trong việc nghiệm thu, bàn giao, bỏ qua nhiều lỗi kỹ thuật, hạch toán không rõ ràng giữa chi phí đầu tư với chi phí SXKD (đặc biệt là chi phí chạy thử), thời gian chạy thử, thời gian lập Biên bản nghiệm thu chậm…
- Các dự án ĐTXD của DNNN chủ yếu là nhằm mục đích kinh doanh, do đó khả năng thu hồi vốn phụ thuộc rất lớn vào tình hình SXKD của doanh nghiệp, tình hình phát triển kinh tế của đất nước
2. Đánh giá chung về công tác kiểm toán ĐTXD tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước

Đọc tiếp »

ĐINH TIẾN DŨNG

Tổng Kiểm toán Nhà nước

Nhận thức sâu sắc những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đến việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng. Hiến pháp năm 1992 đã quy định về nhiệm vụ chống tham nhũng như sau: Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. (Điều 8). Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã xác định các hành vi được coi là tham nhũng; các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong phòng, chống tham nhũng. Bộ luật hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng đã xác định các hành vi tham nhũng là tội phạm hình sự và những hình phạt tương ứng.

Trong điều kiện hiện nay, Đảng và Nhà nước ta coi tham nhũng là một “quốc nạn” và công cuộc chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Với địa vị pháp lý là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là một trong những cơ quan trực tiếp có trách nhiệm phát hiện và phối hợp xử lý tham nhũng, bao gồm: Cơ quan Thanh tra nhà nước, cơ quan điều tra, Kiểm toán Nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân. Vai trò của KTNN trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Đọc tiếp »

PGS,TS. ĐẶNG VĂN THANH

Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA)

 

Chủ trương sửa đổi và bổ sung Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2002 đã được đưa vào chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội từ khóa XII và sẽ tiếp tục trong chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII. Luật NSNN có tác động đến toàn bộ nền kinh tế – xã hội, nên việc sửa đổi cần phải được đặt ra một cách nghiêm túc, căn bản đạt cho được mục tiêu và chủ định của việc tăng cường quản lý ngân quỹ nhà nước. Những quy định về kế toán phải tương xứng với vai trò của nó trong nhiệm vụ kiểm kê, đo lường và công khai, minh bạch công tác quản lý NSNN, quản lý nền tài chính quốc gia.Quản lý và kế toán ngân quỹ nhà nước: yêu cầu luật hóa và phương hướng đổi mới

Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Qua hơn bảy năm thực hiện, Luật đã góp phần phát triển và huy động mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo tăng tiềm lực và quy mô NSNN. Luật đã góp phần tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – ngân sách được phân cấp. Việc thực thi luật trong đời sống thực tế đã góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách. NSNN đã chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều thấy rõ nhất là quy mô ngân sách cứ năm năm sau lại gấp hai lần số thu năm năm trước.

Luật NSNN năm 2002 đã bảo đảm các nguyên tắc cơ bản:

Đọc tiếp »

ThS.TRẦN VŨ HẢI

ĐH LUẬT HÀ NỘI

Theo dự toán ngân sách năm 2012 đang được thực hiện, chỉ có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên tổng số 63 tỉnh, thành là có nguồn thu điều tiết về ngân sách trung ương[1]. Tuy nhiên, số lượng các tỉnh, thành phố tự cân đối được mới chỉ chiếm 20,6% cho thấy có gì đó không đạt như mong đợi của các nhà làm luật trong việc phân chia nguồn lực ngân sách giữa trung ương và địa phương khi ban hành Luật Ngân sách nhà nước năm 2002, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý ngân sách và thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. So với mức điều tiết của giai đoạn ổn định ngân sách trước đó, thì phần ngân sách để lại cho địa phương của 13 tỉnh, thành phố nói trên hầu hết được giảm xuống, cho thấy sự khác biệt ngày càng lớn giữa nhóm địa phương này và các địa phương còn lại. Vậy đâu là những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này và làm thế nào để ngân sách được phân bổ đồng đều hơn, tránh hiện tượng có quá nhiều địa phương không thể tự cân đối thu, chi như hiện nay?

Bài viết này tập trung phân tích về thực tiễn áp dụng pháp luật trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thông qua việc đánh giá những bất cập khi áp dụng pháp luật hiện hành để từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện về chính sách và pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước trong thời gian tới.

1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Đọc tiếp »

Mặc dù Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đang được đưa ra lấy ý kiến nhân dân vẫn giữ nguyên quy định rằng, Quốc hội có nhiệm vụ quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, song theo PGS., TS. Đặng Văn Thanh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế – Ngân sách của Quốc hội (khoá XI), cần quy định rõ hơn vấn đề này.

Thưa ông, tại sao lại phải quy định chi tiết hơn về nhiệm vụ quyết định chính sách tài chính quốc gia của Quốc hội?

Tôi rất trăn trở vấn đề này, vì hiện nay, ngoài ngân sách nhà nước, còn có trên 50 quỹ tài chính tập trung hoặc chuyên dùng cũng là ngân quỹ nhà nước, thuộc phạm vi tài chính nhà nước, bộ phận cấu thành của tài chính quốc gia. Không ít quỹ tài chính ngoài ngân sách quản lý số tiền lên tới hàng ngàn tỷ đồng, thậm chí là hàng chục ngàn tỷ đồng, nhưng trên thực tế, Quốc hội chưa bao giờ được báo cáo về nguồn hình thành, tình hình sử dụng và kết quả sử dụng của các quỹ tài chính nhà nước.

Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực của dân, cần quyết định và được biết các quỹ tài chính nhà nước được hình thành, sử dụng ra sao và phải có trách nhiệm giám sát tất cả các quỹ ngoài ngân sách. Điều này cần phải được hiến định. Hiến pháp không chỉ chế định về ngân sách nhà nước, mà cần chế định toàn bộ tài chính nhà nước, trong đó có các quỹ tài chính ngoài ngân sách.

Quỹ tài chính ngoài ngân sách được thành lập ngày một nhiều, liệu Quốc hội có đủ nhân lực, thời gian giám sát, quản lý được hết?

Dù không thuộc ngân sách nhà nước, nhưng các quỹ này đều thuộc phạm vi của tài chính nhà nước, bộ phận cấu thành của tài chính quốc gia. Đã là tài chính nhà nước, thì dù nhiều hay ít, Quốc hội phải quyết định và thực hiện giám sát. Còn hiện nay, các đại biểu Quốc hội không biết có bao nhiêu quỹ, vốn của mỗi quỹ là bao nhiêu, các quỹ này hoạt động ra sao, kết quả mang lại như thế nào…, vì các cơ quan quản lý quỹ rất ít khi, nếu không nói là hầu như chưa báo cáo công khai trước Quốc hội.

Bản thân tôi, trong thời gian làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế – Ngân sách Quốc hội khoá XI, cũng chưa được nghe báo cáo đầy đủ, chi tiết về các quỹ tài chính nhà nước. Chỉ mới đây, khi tham gia một cuộc họp thẩm tra báo cáo, tôi mới được biết, có những bộ, ngành đang chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng rất nhiều quỹ tài chính ngoài ngân sách. Trong đó, có không ít quỹ có quy mô rất lớn, hoạt động hàng chục năm, nhưng hiệu quả không cao, tình trạng sử dụng sai mục đích cũng không hiếm.

Để quản lý, giám sát chặt chẽ các quỹ tài chính ngoài ngân sách, theo ông, có cần phải xây dựng Luật Quản lý tài chính ngoài ngân sách?

Tỷ lệ động viên từ thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước ngày càng giảm, vốn và nguồn kinh phí của các quỹ tài chính ngoài ngân sách ngày càng lớn cả về quy mô và tỷ trọng. Nếu Quốc hội không quyết định, không giám sát quỹ tài chính ngoài ngân sách, thì không thể quyết định và giám sát được toàn bộ tài chính nhà nước. Vì vậy, trước hết, cần phải chế định trong Hiến pháp về tài chính quốc gia, tài chính nhà nước, quy định rõ Quốc hội phải chịu trách nhiệm quyết định thành lập, giám sát, phân bổ và sử dụng các quỹ tài chính ngoài ngân sách.

Năm 2013, Quốc hội sẽ cho ý kiến vào Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước; Luật Đầu tư công, mua sắm công; Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi. Đây là những luật rất quan trọng trong chế tài các hoạt động quản lý tài chính nhà nước, tài sản quốc gia, nhưng chưa đủ và chưa chế tài việc quản lý, giám sát chặt chẽ các quỹ tài chính ngoài ngân sách.

Tôi cho rằng, cần ban hành Luật Tài chính nhà nước, trong đó chế tài toàn bộ các hoạt động của tài chính nhà nước, bao gồm cả ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và các hoạt động tín dụng nhà nước (vay, cho vay và trả nợ của Chính phủ).

Nguồn: tapchitaichinh.vn, 22/3/2013

TƯ GIANG

(TBKTSG) – LTS: Đầu tư công và quy hoạch chỉ là hai trong nhiều lĩnh vực đã được phân cấp hoàn toàn cho địa phương và đang để lại những hậu quả tai hại cho nền kinh tế. Những bất cập trong việc phân cấp giữa trung ương và địa phương là chuyện cần sớm được giải quyết, nhất là khi doanh nghiệp trong và ngoài nước đều cảm nhận khá tiêu cực về chất lượng điều hành kinh tế của các địa phương, theo kết quả điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2012 (PCI 2012).

Vài tháng sau khi nhận nhiệm sở, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã gặp mặt một số nhà kinh tế. Là người mới có hơn một năm ở bộ sau khi trải qua tới chín năm ở vị trí lãnh đạo ngành kế hoạch tỉnh Lào Cai, ông muốn nghe ý kiến của họ về thách thức của ngành ở tầm quốc gia.

Người thuyết trình chính trong buổi tọa đàm, ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đặt một câu hỏi: “Nền kinh tế 100 tỉ đô la của chúng ta có những gì?”. Sau đó, ông Thiên liệt kê có 100 cảng biển với 20 cảng quốc tế, hơn 100 tổ chức tín dụng, 22 sân bay với 8 sân bay phục vụ quốc tế, 18 khu kinh tế ven biển, 27 khu kinh tế cửa khẩu, 260 khu công nghiệp, 650 cụm công nghiệp… Ngoài ra, mỗi tháng Việt Nam lại có thêm một khu đô thị mới. Ông nói: “Tỉnh nào cũng có sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, sân golf, trường đại học… như quốc gia độc lập. Tình trạng trên dẫn tới lãng phí lớn và tranh chấp nguồn lực vô cùng khốc liệt”.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 9    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,120,981 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 136 other followers