You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Ngan sach Nha nuoc’ category.

Luattaichinh

Giá dầu thế giới đang giảm mạnh kéo theo những quan ngại về thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong tài khóa 2015. Trong khi giá dầu bình quân ngày 11/12/2014 chỉ khoảng 55 USD/thùng thì Bộ Tài chính đã dự báo trung bình 100 USD/thùng khi xây dựng dự toán ngân sách 2015

http://vneconomy.vn/thoi-su/kich-ban-nao-cho-viet-nam-khi-gia-dau-giam-chong-mat-20141211091334675.htm

Đã đến lúc Chính phủ cần xây dựng Báo cáo về rủi ro tài khóa khi đệ trình Quốc hội về dự thảo ngân sách hàng năm. Điều đó sẽ giúp Quốc hội quyết nghị ngân sách đúng đắn hơn và việc điều hành của Chính phủ cũng có nhiều thuận lợi.

——————————————

Báo cáo về Rủi ro tài khoá

Đọc tiếp »

Lập dự toán thấp để được thưởng vì vượt thu cao

Nhà báo Việt Lâm:Đúng là nhà nghèo thì phải đi vay mượn. Nhưng nếu nhà nghèo mà vung tay quá trán thì rất đáng lo. Nhiều ĐBQH đã lên tiếng lo ngại về tình trạng kỷ cương ngân sách lỏng lẻo. Tôi xin trích lời phát biểu của ĐB Trần Du Lịch: “Tôi không thấy ở đâu sử dụng ngân sách tùy tiện như ở nước mình, có lần tôi đi thăm một nước vào cuối tháng 12 họ không mời được cơm vì ngân sách chưa có, còn nước ta thì ăn nhậu vô tội vạ, thậm chí quyết toán được hết”. Tại sao lại có tình trạng này, thưa ông?

Ts Vũ Đình Ánh: Là người làm trong lĩnh vực tài chính gần hai chục năm và quan sát cả cấp TƯ lẫn địa phương, tôi rất chia sẻ với lo ngại của ĐB Trần Du Lịch về kỷ luật ngân sách. Không những kỷ luật chi mà cả kỷ luật thu ngân sách của chúng ta đều có vấn đề.

Chúng ta thường xuyên kêu ca về nạn thất thu ngân sách, trốn lậu thuế. Nhưng vấn đề ở chỗ người ta thường xây dựng một dự toán thu ngân sách ở địa phương rất thấp để họ có thể vượt dự toán thu đó. Nhờ khoản vượt thu này mà họ được thưởng. Nói cách khác, họ cố tình kéo dự toán thu thấp hơn khả năng đạt được. Thêm vào đó, những địa phương này còn có dư địa rất lớn để đạt được dự toán cho năm sau. Dư địa này là khoản thất thu ngân sách và trốn lậu thuế mà các địa phương này chỉ cần tăng cường kỷ luật thì sẽ thu được rất cao.

Tình trạng bất cập này tạo ra một hiện tượng thú vị. Đó là, thu ngân sách nhà nước chưa bao giờ là không vượt dự toán, thậm chí có những năm vượt dự toán trên 30%. Thậm chí nếu bắt những nơi này vượt dự toán cả 50%, họ vẫn làm được và vẫn còn dư địa để năm sau tiếp tục vượt thu ngân sách. Rõ ràng kỷ luật thu ngân sách của chúng ta có vấn đề. Không chỉ về trình độ năng lực mà vấn đề là chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nghiêm túc và không nghiêm túc nộp ngân sách nhà nước.ăn nhậu, nợ công, ngân sách nhà nước

Điều đáng kinh ngạc là nếu giả định vượt thu ngân sách so với dự toán là thành tích, nỗ lực của các đơn vị thực thi, hay còn gọi là đơn vị hành thu theo thuật ngữ chuyên môn, thì tại sao chi ngân sách cũng vượt dự toán rất nhiều? Bất kể thu ngân sách có vượt vài chục phần trăm so với dự toán nhưng rốt cuộc thâm hụt ngân sách vẫn cứ đều đặn 4,8-5% GDP mỗi năm. Nghĩa là chi ngân sách cũng phải vượt dự toán vài chục phần trăm thì mới cho ra chênh lệch thu chi như vậy.

Đọc tiếp »

VŨ HOÀNG

Ở Việt Nam, Bio Rad bị tố cáo thường hối lộ các viên chức bệnh viện và phòng thí nghiệm, sử dụng một nhà phân phối trung gian để tránh bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý.

Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) và Bộ Tư pháp Mỹ hôm 3/11 thông báo, công ty thiết bị và nghiên cứu y tế Mỹ Bio-Rad vừa chấp thuận nộp phạt 55 triệu USD để dàn xếp các cáo buộc hình sự và dân sự về hành vi hối lộ quan chức chính phủ của nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Bio-Rad được thành lập vào năm 1952 tại Berkeley, hiện đặt trụ sở tại Hercules, California, Mỹ. Công ty ban đầu tập trung vào mảng phát triển và sản xuất hóa chất đặc biệt, sử dụng trong sinh học, dược phẩm và các ứng dụng nghiên cứu khoa học đời sống khác. Đến nay, Bio-Rad hoạt động trên hai phân khúc: khoa học đời sống và chẩn đoán lâm sàng, với quy mô toàn cầu. Công ty có gần 8.000 nhân viên, giám đốc điều hành là ông Norman D.Schwartz. Khách hàng của Bio-Rad thường là các bệnh viện, viện nghiên cứu lớn, cơ sở y tế công cộng, phòng thí nghiệm…

Thuê trung gian hòng né tránh pháp luật Việt Nam

Theo thông báo điều tra của SEC, Bio Rad từ năm 2005 đến năm 2009 duy trì một văn phòng đại diện bán hàng ở Việt Nam. Giám đốc văn phòng Việt Nam được phép phê duyệt những hợp đồng có giá trị lên đến 100.000 USD và chi hoa hồng đến 20.000 USD. Văn phòng Việt Nam sẽ báo cáo mọi thông tin chi tiết cho giám đốc khu vực Đông Nam Á (RSM) của Bio-Rad có trụ sở đặt tại Singapore, và từ đây tiếp tục báo về cho giám đốc quản lý chung toàn khu vực châu Á.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Hiệu quả ngân sách cần được hiểu là những kết quả đích thực mà ngân sách nhà nước đạt được sau khi thực hiện được xem xét trong mối tương quan với nguồn lực đã sử dụng.

Theo TS. Bùi Đại Dũng, hiệu quả của việc chi tiêu ngân sách phải được phản ánh trong mối quan hệ giữa khối lượng nguồn lực mà nó sử dụng và các kết quả đầu ra tổng thể cho cả xã hội trong một khoảng thời gian thích hợp. Có thể sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng để đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. (TS. Bùi Đại Dũng, Hiệu quả chi tiêu ngân sách dưới tác động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2007).

Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế xã hội mà chưa đánh giá được những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ pháp luật của hoạt động ngân sách nhà nước cũng như sẽ gặp khó khăn khi đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.

Đọc tiếp »

NGUYỄN VẠN PHÚ

Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng nếu nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công?

Số liệu công khai thu chi ngân sách TPHCM cho thấy tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước tính trên 46.200 tỉ đồng, gồm 17.500 tỉ đồng chi cho đầu tư phát triển. Trong các khoản chi thường xuyên thì chi cho sự nghiệp giáo dục chỉ có chừng 6.800 tỉ đồng.

Thử hỏi trong bối cảnh đó, đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TPHCM năm học 2014-2015” với tổng kinh phí chừng 4.000 tỉ đồng làm sao mang tính khả thi? Cho dù có khoản mục “xã hội hóa”, tức phụ huynh sẽ tự bỏ tiền mua máy tính bảng nhưng kinh phí chủ yếu cũng từ ngân sách. Có lẽ ít người biết tổng chi quản lý hành chính của toàn TPHCM năm 2013 cũng vào khoảng chừng đó mà thôi!

Một đề án chỉ cho ba khối lớp 1, 2 và 3 mà đã gần bằng toàn bộ mức chi thường xuyên cho cả ngành giáo dục và bằng mức chi cho bộ máy hành chính thì làm sao được thông qua. Vấn đề đáng lưu tâm là qua đề án này, nhìn từ góc cạnh kinh tế, có thể rút ra được những bài học gì về đầu tư công hay công tư phối hợp?

Một đề án phi kinh tế

Đọc tiếp »

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Công bố ngày 25/7/2014

Năm 2013, Kiểm toán Nhà nước đã tổ chức kiểm toán tại 150 đầu mối[1] và kiểm toán Báo cáo quyết toán NSNN năm 2012 tại Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT.

Thực hiện quy định tại khoản 8, Điều 15, khoản 3, Điều 55 Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước đã lập Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2013 để gửi đến từng Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 13 và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Căn cứ Điều 58, Luật Kiểm toán nhà nước, khoản 2, Điều 11, Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ngày 18/8/2008 của Chính phủ về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trân trọng công bố tóm tắt kết quả kiểm toán năm 2013 như sau:

A. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN QUYẾT TOÁN NSNN NĂM 2012

- Tổng thu NSNN 1.058.140 tỷ đồng, vượt 1,9% dự toán.

- Tổng chi NSNN 1.170.924 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, trong đó: Chi đầu tư phát triển 268.812 tỷ đồng, bằng 31,1% tổng chi NSNN, vượt 49,3% (88.812 tỷ đồng) dự toán; chi thường xuyên 603.372 tỷ đồng, vượt 0,3% (2.072 tỷ đồng) dự toán; chi trả nợ, viện trợ 105.838 tỷ đồng, vượt 5,8% (5.838 tỷ đồng) dự toán.

- Tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 5,3%; bội chi NSNN được giữ ở mức 4,75% GDP, thấp hơn 0,05% mức Quốc hội cho phép (4,8%); dư nợ Chính phủ bằng 38,9% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 37,4% GDP[2]; dư nợ công 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP (năm 2011 bằng 54,9% GDP)[3].

Qua kiểm toán cho thấy trong quản lý điều hành ngân sách việc sử dụng các khoản tăng thu, dư dự toán và dự phòng ngân sách cơ bản phù hợp quy định; tổng chi chuyển nguồn và chuyển nguồn của những nhiệm vụ chậm triển khai đều giảm so với năm 2011, sử dụng kinh phí NSNN tại các bộ, cơ quan trung ương đi vào nề nếp hơn, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước[4]; các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; các đơn vị được kiểm toán cơ bản đã tuân thủ quy định của Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, Chống tham nhũng… Song, còn một số thiếu sót, hạn chế:

1. Lập và giao dự toán

Đọc tiếp »

ThS. TRẦN VŨ HẢI & HOÀNG MINH THÁI

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

1. Quan niệm về giám sát tài chính công

Tại Việt Nam và trên thế giới hiện nay, nhận thức về giám sát trong lĩnh vực tài chính công (GSTCC) là không thống nhất. Nếu có định nghĩa thì hầu hết đều tập trung định nghĩa về hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung. Walter J. Oleszek, chuyên gia cao cấp của Chính phủ Mỹ dẫn lại của Joel D. Aberbach (1990) cho rằng: có nhiều khái niệm khác nhau về giám sát tùy thuộc vào các nhà chính trị, trong đó có một khái niệm hẹp đáng chú ý, theo đó giám sát của Quốc hội được hiểu là việc Quốc hội xem xét các hành vi của các cơ quan hành chính liên bang và các chương trình, chính sách mà họ quản lý, bao gồm đánh giá diễn ra trong khi thực hiện cũng như đánh giá sau đó[1]. Trong khi đó, Yamamoto (2007) lại định nghĩa: Giám sát của Quốc hội là việc rà soát, theo dõi và giám sát của chính phủ và các cơ quan công quyền, bao gồm cả việc thực hiện các chính sách và pháp luật. Định nghĩa này tập trung vào mục đích và tính chất của hoạt động giám sát chứ không phải trên các giai đoạn thực hiện[2]. Cụ thể hơn, Karolina Buzaljko và cộng sự (2010) cho rằng mục đích của giám sát tài chính là để xác định trách nhiệm của Chính phủ trong việc sử dụng công quỹ bằng cách phát hiện gian lận, lãng phí, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm trong hoạt động của chính phủ[3].

Qua khảo cứu cho thấy các định nghĩa đều mô tả hoạt động giám sát nói chung, mà hầu như không có định nghĩa riêng về giám sát tài chính. Điều này có lẽ xuất phát từ một vài lý do. Một là, tài chính công tự thân nó đã có những yêu cầu của sự minh bạch, do đó vấn đề giám sát, đánh giá hoạt động tài chính công thường được coi là song hành với nội dung của hoạt động tài chính công. Quy trình quyết định và thực hiện các hoạt động tài chính công đòi hỏi những mối quan hệ khá đa dạng và thường có sự kiểm soát lẫn nhau. Ví dụ: các hoạt động chi tiêu của Chính phủ sẽ do Quốc hội quyết định, hay việc kiểm tra điều kiện thanh toán của đơn vị sử dụng ngân sách sẽ do KBNN thực hiện. Hai là, hoạt động giám sát thường được hiểu là của một chủ thể thứ ba “từ bên trên” thực hiện việc theo dõi, đánh giá và can thiệp để đảm bảo hoạt động nào đó, ví dụ như việc giám sát thị trường ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm. Với cách hiểu này thì rõ ràng việc GSTCC rất khó được giải thích vì tài chính công là hoạt động của nhà nước, do đó, việc giám sát tài chính cũng là của nhà nước chứ không phải là một chủ thể độc lập nào khác. Chính vì vậy, khi nói đến hoạt động giám sát tài chính, hầu như các nghiên cứu bỏ qua nội dung giám sát trong lĩnh vực tài chính công[4].

Từ những quan niệm khác nhau về GSTCC, có thể đưa ra một số cách tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, GSTCC được hiểu là các phương thức đánh giá từ bên trong và bên ngoài nhằm đảm bảo cho hoạt động tài chính công đạt hiệu quả. Còn theo nghĩa hẹp, GSTCC là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đảm bảo sự tuân thủ chính sách và pháp luật trong lĩnh vực tài chính công.

Đọc tiếp »

Tại phiên thảo luận về Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2009-2012, hàng loạt bất cập, hạn chế trong thực hiện chính sách về BHYT, đặc biệt những tồn tại, vướng mắc trong cơ chế sử dụng Quỹ BHYT là vấn đề bức xúc được nhiều đại biểu Quốc hội phân tích, mổ xẻ.

Theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số tiền thu BHYT giai đoạn 2009-2012 gia tăng nhanh qua các năm. Năm 2009, số thu là 13 nghìn tỷ đồng, đến năm 2012 đã lên đến 40,3 nghìn tỷ đồng. Quỹ BHYT từ chỗ lũy kế bội chi đến năm 2009 là 3.083 tỷ đồng đã cân đối và có kết dư lũy kế đến năm 2012 là 12.892 tỷ đồng.

Cơ quan giám sát cũng chỉ ra rằng, tại nhiều tỉnh miền núi và Tây Nguyên có số kết dư quỹ BHYT khá cao, có tỉnh kết dư hàng trăm tỷ đồng. Trong khi đó, năm 2012 vẫn có 10 tỉnh bội chi Quỹ BHYT, đặc biệt có tỉnh bội chi liên tục Quỹ BHYT từ khi thực hiện đến nay và thường xuyên nhận hỗ trợ từ quỹ dự phòng Trung ương.

Khắc phục tình trạng “bao cấp ngược”

Đọc tiếp »

I. Kết quả bước đầu và những hạn chế

Những năm gần đây, KTNN đã tiến hành nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề, kiểm toán các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội. Với mong muốn đạt kết quả kiểm toán tốt, có nhiều kiến nghị hữu ích cho công tác quản lý, điều hành, ngành đã từng bước gắn chặt và áp dụng sâu rộng loại hình kiểm toán hoạt động (KTHĐ). Các nội dung KTHĐ bước đầu đã có kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục.

Đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong một cuộc kiểm toán về bản chất là áp dụng loại hình KTHĐ trong cuộc kiểm toán đó. KTHĐ có thể được tiến hành trong toàn bộ khu vực công, các góc độ xem xét và các đối tượng kiểm toán của kiểm toán hoạt động bao gồm những vấn đề lớn mang tính quốc gia, bao trùm nhiều bộ, ngành, địa phương hoặc có thể là từng cơ quan riêng lẻ cũng như từng chương trình, dự án của Nhà nước hoặc từng cơ quan Nhà nước. Như vậy mọi vấn đề liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách tiền, tài sản Nhà nước và các nguồn lực công đều có thể  tiến hành KTHĐ từ việc quản lý, sử dụng ngân sách tiền và tài sản Nhà nước của một đơn vị hành chính Nhà nước, một đơn vị sự nghiệp công lập, một doanh nghiệp, một tổ chức tín dụng…  Hay nhỏ hơn là một hợp đồng kinh tế thậm chí một nghiệp vụ kinh tế hoặc một qui định của một đơn vị cụ thể về quản lý tài sản công, nguồn lực công và có thể là những vấn đề lớn như một chính sách của Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ) để phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng hoặc bảo đảm an sinh xã hội mà chính sách đó tiêu tốn một lượng kinh phí hoặc sử dụng tài sản Nhà nước, nguồn lực công hay một chính sách, một qui định do một Bộ, ngành, một địa phương ban hành đều có thể tiến hành KTHĐ. Hay nói một cách khác, bất cứ một cuộc kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước nào cũng có thể áp dụng loại hình KTHĐ.

Đọc tiếp »

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

BÙI ĐỨC NAM

Nhu cầu về tài chính cho giáo dục đại học đang ngày càng cao, tạo áp lực lên ngân sách nhà nước. Từ góc độ một cơ sở giáo dục đại học, bài viết đưa ra một số ý kiến xoay quanh vấn đề tài chính đại học đối với cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) công lập.

Đổi mới cơ chế, chính sách…

Hiện nay, các CSGDĐH ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các bộ); Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền…; Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư.

Cơ cấu của các nguồn trên thay đổi rất nhiều giữa các nước. Chẳng hạn, hầu hết các trường đại học ở nước đang phát triển, 90% nguồn thu của họ là từ phân bổ của Nhà nước cho giảng dạy. Học phí và lệ phí là không đáng kể. Ngay cả ở một vài nước phát triển, các trường đại học của họ nếu không có nhiều hoạt động nghiên cứu cũng sẽ dựa chủ yếu vào hai nguồn thu chính – hỗ trợ từ Nhà nước và học phí.

Ở Việt Nam, các CSGDĐH có 3 nguồn thu chính, gồm từ ngân sách nhà nước (NSNN) và học phí, nguồn còn lại không đáng kể. Thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học (GDĐH) đã đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Điều này thể hiện rõ qua Nghị quyết số 35/2009/ QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị định số 49/2009/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015… Những đổi mới này, đã tạo động lực quan trọng đối với các CSGDĐH công lập trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm.

Đọc tiếp »

TS. BÙI TIẾN DŨNG

Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua…

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 – 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đọc tiếp »

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với Quỹ đầu tư phát triển địa phương được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Nghị định số 138/2007/NĐ-CP) và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 138/2007/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2013/NĐ-CP).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Quỹ).

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

3. Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Đọc tiếp »

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về thanh toán bằng tiền mặt và quản lý nhà nước về thanh toán bằng tiền mặt trong một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng của Nghị định này gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước), tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt.

Đọc tiếp »

Tuy mức độ khác nhau song đề nghị tăng tự chủ cho địa phương trong thu chi ngân sách là điểm chung ở tham luận của nhiều thành phố lớn tại hội thảo về phân cấp ngân sách và cơ chế tài chính đặc thù của một số địa phương diễn ra trong hai ngày 18 và 19/2 tại Tp.HCM, do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức.

Được chắp bút bởi TS. Lê Văn Hoạt, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, bản tham luận đến từ Thủ đô mang đến khá nhiều thông tin đáng chú ý.
Theo đó, liên tiếp hai năm 2012 – 2013, Hà Nội thu ngân sách nhà nước chỉ đạt bằng dự toán giao (năm 2013 thu 163.000 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán), cân đối ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư của Thủ đô.
Giống như nhiều địa phương khác, thu ngân sách của Hà Nội còn chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào các khoản thu từ đất với bình quân 11.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 22%-25% thu ngân sách địa phương.
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách được ông Hoạt đánh giá là chưa có bước đột phá. Điều này thể hiện rất rõ qua tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng chậm dần khi 2013 chỉ đạt 260,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12%, thấp hơn kế hoạch là 15-16,5% và cùng kỳ năm 2012 là 13,21%.
Không là ngoại lệ, số lượng doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng kinh doanh ở Thủ đô cũng tăng đột biến trong 2 năm gần đây với khoảng 22.600 doanh nghiệp, chiếm 14% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Tình hình nợ công diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, bản tham luận nêu lo lắng của tác giả.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Mười Hai 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 11    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,166,167 lượt

RSS Tin tức The Saigon Times

  • Sai lầm của ACB, Navibank và trách nhiệm của Vietinbank 18/12/2014
    (TBKTSG Online) - Tiền của ACB và Navibank ủy thác cho nhân viên của mình gửi vào Vietinbank bị Huyền Như chiếm đoạt xuất phát từ sai lầm của ACB và Navibank nhưng Vietinbank cũng có trách nhiệm, theo nội dung phiên tòa hôm nay.
  • Tiền gửi vào ngân hàng : tài sản của ai? 18/12/2014
    (TBKTSG Online) - Ngày 16/12/2014, tại phiên tòa phúc thẩm xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đã xuất hiện một câu hỏi quan trọng từ đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố : “tiền của khách hàng vào tài khoản của VietinBank có phải là tài sản của ngân hàng hay không?” […]
  • Ra mắt dịch vụ chuyển tiền từ Hàn Quốc về chủ thẻ tại VN 18/12/2014
    (TBKTSG Online) – Từ ngày 17-12, người ở Hàn Quốc có thể chuyển tiền cho chủ thẻ của một số ngân hàng tại Việt Nam qua quầy giao dịch, ATM, Internet banking,… và người nhận sẽ nhận được tiền ngay sau khi người gửi hoàn tất giao dịch.
  • Chứng khoán 18-12: Phục hồi mạnh 18/12/2014
    (TBKTSG Online) - Thị trường đón nhận phiên hồi phục mạnh hôm nay sau khi đã “rơi tự do” phiên trước đó. Cả hai sàn bật tăng mạnh ngay những phút đầu giờ, đà tăng bị “thử thách” trong khoảng 1 tiếng đồng hồ sau đó trước khi thật sự ổn định và tăng mạnh dần đến thời điểm cuối phiên. […]
  • Quà Giáng sinh cho chứng khoán? 18/12/2014
    (TBKTSG) - Tháng cuối năm, thị trường chứng khoán Việt Nam không mang lại niềm vui cho nhà đầu tư. Cho đến đầu tuần này VN-Index chỉ còn tăng 13% so với đầu năm. Các cổ phiếu dầu khí mất điểm phủ một nỗi ám ảnh lên cả hai sàn.
  • Xử vụ án Huyền Như: Đừng làm vẩn đục niềm tin người gửi tiền 18/12/2014
    (TBKTSG) - Bây giờ chiếu theo luật định, hành vi gửi tiền để hưởng lãi suất cao từ phía một số ngân hàng là trái quy định. Không ai phủ định điều đó. Chỉ là nơi nhận tiền gửi và tiền đã vào hệ thống VietinBank, lẽ nào không ai có trách nhiệm về số tiền đã nhận gửi đó?
  • TTCK Việt Nam cuối năm 2014 – Điều gì đang xảy ra ? 17/12/2014
    (TBKTSG Online) - Chứng khoán Việt Nam đang đối mặt với giai đoạn giảm điểm đáng kể nhất trong năm 2014, thậm chí mức độ mất điểm hiện nay còn lớn hơn cả khi “sư kiện Biển Đông” xảy ra vào tháng 5 (VN-Index đã giảm 23% tính từ đỉnh cao nhất, ở “sự kiện Biển Đông” chỉ số này chỉ giảm 20%). […]
  • Hơn 90 tỉ đô la Mỹ kiều hối đã gửi về Việt Nam 17/12/2014
    (TBKTSG Online) - Nguồn tiền kiếu hối - hiện đã vượt 90 tỉ đô-la Mỹ kể từ năm 1991 - đang trở thành phao cứu sinh cho nhiều doanh nghiệp, và là nguồn tài chính rất quan trọng với nhiều gia đình ở Việt Nam, theo Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM).
  • Chứng khoán 16-12: VN-Index giảm hơn 2,3% 16/12/2014
    (TBKTSG Online) - Giá dầu tiếp tục xuống mức 55 đô la Mỹ/thùng sáng nay đã khiến cho hầu hết các thị trường tại khu vực châu Á tiếp tục giảm điểm. Cụ thể chỉ số Nikkei (Nhật Bản) đóng cửa mất 2,01%, Hang Seng (Hồng Kông) giảm 1,55%.
  • CEO Citibank Việt Nam qua làm CEO ANZ 16/12/2014
    (TBKTSG Online) – Ông Dennis Hussey, người đảm nhiệm vị trí Tổng giám đốc Ngân hàng Citi Việt Nam tới nay chưa đầy một năm sẽ qua làm Tổng giám đốc ANZ Việt Nam từ tháng 3-2015.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 146 other followers