You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Ngan sach Nha nuoc’ category.

Tên đề tài: Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ, do Viện Khoa học Pháp lý chủ trì.

Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS.Phạm Thị Giang Thu.

Thư ký đề tài: ThS.Trần Vũ Hải và TS.Nguyễn Minh Hằng.

Tập thể tác giả: Bao gồm các chuyên gia đến từ Quốc hội, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công Thương, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và các giảng viên Bộ môn Luật Tài chính Ngân hàng (Đại học Luật Hà Nội).

Đề tài đã bảo vệ thành công vào tháng 12/2013, xếp loại xuất sắc.

Bạn đọc có thể tham khảo tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội, Thư viện Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Học viện Tài chính.

Sau đây là tóm tắt nội dung đề tài.

Đọc tiếp »

BÙI ĐỨC NAM

Nhu cầu về tài chính cho giáo dục đại học đang ngày càng cao, tạo áp lực lên ngân sách nhà nước. Từ góc độ một cơ sở giáo dục đại học, bài viết đưa ra một số ý kiến xoay quanh vấn đề tài chính đại học đối với cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) công lập.

Đổi mới cơ chế, chính sách…

Hiện nay, các CSGDĐH ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các bộ); Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền…; Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư.

Cơ cấu của các nguồn trên thay đổi rất nhiều giữa các nước. Chẳng hạn, hầu hết các trường đại học ở nước đang phát triển, 90% nguồn thu của họ là từ phân bổ của Nhà nước cho giảng dạy. Học phí và lệ phí là không đáng kể. Ngay cả ở một vài nước phát triển, các trường đại học của họ nếu không có nhiều hoạt động nghiên cứu cũng sẽ dựa chủ yếu vào hai nguồn thu chính – hỗ trợ từ Nhà nước và học phí.

Ở Việt Nam, các CSGDĐH có 3 nguồn thu chính, gồm từ ngân sách nhà nước (NSNN) và học phí, nguồn còn lại không đáng kể. Thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học (GDĐH) đã đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Điều này thể hiện rõ qua Nghị quyết số 35/2009/ QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị định số 49/2009/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015… Những đổi mới này, đã tạo động lực quan trọng đối với các CSGDĐH công lập trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm.

Đọc tiếp »

TS. BÙI TIẾN DŨNG

Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua…

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 – 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đọc tiếp »

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với Quỹ đầu tư phát triển địa phương được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Nghị định số 138/2007/NĐ-CP) và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 138/2007/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2013/NĐ-CP).

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Quỹ).

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

3. Cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Đọc tiếp »

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về thanh toán bằng tiền mặt và quản lý nhà nước về thanh toán bằng tiền mặt trong một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng của Nghị định này gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước), tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt.

Đọc tiếp »

Tuy mức độ khác nhau song đề nghị tăng tự chủ cho địa phương trong thu chi ngân sách là điểm chung ở tham luận của nhiều thành phố lớn tại hội thảo về phân cấp ngân sách và cơ chế tài chính đặc thù của một số địa phương diễn ra trong hai ngày 18 và 19/2 tại Tp.HCM, do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức.

Được chắp bút bởi TS. Lê Văn Hoạt, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, bản tham luận đến từ Thủ đô mang đến khá nhiều thông tin đáng chú ý.
Theo đó, liên tiếp hai năm 2012 – 2013, Hà Nội thu ngân sách nhà nước chỉ đạt bằng dự toán giao (năm 2013 thu 163.000 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán), cân đối ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư của Thủ đô.
Giống như nhiều địa phương khác, thu ngân sách của Hà Nội còn chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào các khoản thu từ đất với bình quân 11.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 22%-25% thu ngân sách địa phương.
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách được ông Hoạt đánh giá là chưa có bước đột phá. Điều này thể hiện rất rõ qua tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng chậm dần khi 2013 chỉ đạt 260,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12%, thấp hơn kế hoạch là 15-16,5% và cùng kỳ năm 2012 là 13,21%.
Không là ngoại lệ, số lượng doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng kinh doanh ở Thủ đô cũng tăng đột biến trong 2 năm gần đây với khoảng 22.600 doanh nghiệp, chiếm 14% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Tình hình nợ công diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, bản tham luận nêu lo lắng của tác giả.

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Tên bài gốc là "Một bộ máy ‘ngốn’ 77 sân vận động Mỹ Đình?" đăng trên Tuanvietnam.net, ngày 20/2/2014

——————————————

Con số giật mình

Theo số liệu của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền cung cấp cho báo chí, Quỹ xóa đói giảm nghèo của VN trong giai đoạn 2011-2013 đạt mức 120 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 5,5 tỷ USD) [1].

xóa đói giảm nghèo, lãng phí, sân vận động Mỹ Đình, nợ công

Việt Nam hiện nay có từ khoảng 500 nghìn đến 3 triệu hộ nghèo theo nhiều nguồn khác nhau. Đa số các hộ nghèo tập trung ở khu vực nông thôn, nơi thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 4,2 triệu đồng/người/năm.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính với đoàn giám sát thì  từ 2005 đến 2012 hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách giảm nghèo khoảng 734.000 tỷ đồng (bình quân khoảng trên 90.000 tỷ đồng/năm) chiếm trên 12% tổng chi ngân sách nhà nước.

Con số này được Thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp giải thích là chưa tính đến nguồn vốn tín dụng mỗi năm 20 nghìn tỷ đồng cho vay ưu đãi và Nhà nước hỗ trợ lãi suất khoảng 7 – 8 nghìn tỷ đồng nữa.

Thử làm một phép tính nhỏ, nếu lấy 120 nghìn tỷ đồng/năm chia cho tổng số 500 nghìn hộ nghèo ở Việt Nam, sẽ ra kinh phí hàng năm để giúp một hộ thoát nghèo là 240 triệu đồng, tức 20 triệu đồng/hộ/tháng.

Nếu chia bình quân cho một hộ cơ bản bốn thành viên, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo nhận hỗ trợ sẽ là 5 triệu đồng/người/tháng. Tức là gấp 10 lần chuẩn nghèo ở thành thị (500 nghìn đồng/người/tháng) và lớn hơn của thu nhập bình quân đầu người của nông dân.

Kết quả sẽ thay đổi nếu chúng ta chia cho 3 triệu hộ nghèo theo thông tin từ một nguồn khác. Nhưng con số 240 triệu đồng như trên có vẻ phù hợp với thông tin do Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Đỗ Mạnh Hùng cung cấp cho báo Đại đoàn kết ngày 29/9/2013 là 180 triệu đồng/hộ/năm, chia từ nguồn quỹ 90 nghìn tỷ đồng/năm trước 2011.

Tiền thực sự đã đi đâu?

Đọc tiếp »

LÂM HỒNG CƯỜNG

Kiểm soát chi ngân sách là tổng thể các hoạt động của cá nhân và tổ chức có trách nhiệm nhằm bảo đảm cho các khoản chi ngân sách thực hiện đúng quy định, đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm. Luật NSNN hiện hành quy định khi có nhu cầu chi, Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách gởi chứng từ thanh toán (đồng thời là lệnh chuẩn chi) tới KBNN cùng với hồ sơ thanh toán, KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định của Luật theo phương thức thanh toán trực tiếp. Cùng với việc triển khai hoạt động kiểm soát chi của hệ thống KBNN, công tác quản lý chi ngân sách có nhiều chuyển biến tích cực và quan trọng. Tuy nhiên để đạt tới mục tiêu minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm chúng ta còn phải cố gắng nhiều. Từ thực tế công tác, xin góp một vài ý kiến trong tổ chức công tác kiểm soát chi.

Kiểm soát chi ở đơn vị sử dụng ngân sách

Hoạt động kiểm soát chi ngân sách trước đây là hoạt động kiểm soát các chứng từ chi tiêu trong công tác kế toán được nâng cấp, chuẩn hoá và từng bước hoàn thiện trong quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống KBNN. Việc kiểm soát chi được thực hiện cả trước, trong và sau quá trình chi tiêu, thực hiện tại đơn vị sử dụng ngân sách và tại cơ quan kiểm soát chi. Ngoại trừ các khoản chi sử dụng hình thức cấp phát là Lệnh chi tiền do cơ quan tài chính kiểm soát , các khoản chi còn lại do KBNN kiểm soát chi.

Trong một thời gian dài và ngay cả hiện nay vẫn còn ở đâu đó, thuật ngữ “kiểm soát chi qua KBNN” bị hiểu nhầm là chỉ có KBNN thực hiện kiểm soát chi ngân sách và do đó đúng sai thất thoát thì KBNN phải chịu trách nhiệm. Rất nhiều người kể cả các cơ quan nội chính ở địa phương đã viện dẫn điều 56 của Luật NSNN hiện hành để lý giải cho lập luận này. Trong thực tế vẫn còn nhiều đơn vị sử dụng ngân sách ít kiểm soát, kiểm soát một cách hình thức thậm chí không biết kiểm soát các khoản chi ngân sách tại đơn vị mình.

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN THÀNH ĐÔ

Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)

Các nguồn vốn vay trong và ngoài nước là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó, đối với Việt Nam, việc quản lý nợ trong trung và dài hạn một cách hiệu quả là hết sức quan trọng.

Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công của Việt Nam là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012.
Cụ thể, tổng số nợ Chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%). Đối với vay về cho vay lại, tính đến ngày 31/12/2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012). Nợ được Chính phủ bảo lãnh tính đến ngày 31/12/2012 là 342.036 tỷ đồng, trong đó nợ bảo lãnh vay nước ngoài là 150.586 tỷ đồng (chiếm 44%), nợ bảo lãnh vay trong nước là 191.450 tỷ đồng (chiếm 56%).

Trong đó, bảo lãnh vay nước ngoài tính đến ngày 31/12/2012, đã có 96 dự án vay nước ngoài được cấp bảo lãnh Chính phủ thuộc các lĩnh vực điện (47 dự án), hàng không (6 dự án), xi măng (17 dự án), dầu khí (7 dự án), giấy và bột giấy (5 dự án) và các lĩnh vực khác với giá 12,97 tỷ USD, các dự án đã giải ngân là 9,88 tỷ USD và số dư nợ gốc là 7,24 tỷ USD (tương đương 150.586 tỷ đồng); Bảo lãnh vay trong nước tập trung vào 2 ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam), Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và một số dự án trọng điểm quốc gia.

Đọc tiếp »

ThS. VĨNH SANG

Mặc dù chưa có khuôn khổ pháp lý (Nghị định của Chính phủ) về nghiệp vụ quản lý ngân quỹ nhưng để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác thanh toán, cuối tháng 7/2013 vừa qua, Tổng giám đốc KBNN đã ban hành “Quy trình nghiệp vụ thí điểm thanh toán song phương điện tử (TTĐTSP) giữa KBNN và Ngân hàng Thương mại” theo Quyết định 699/QĐ-KBNN. Việc thực hiện Quyết định này được xem như là bước khởi đầu của lộ trình hình thành tài khoản thanh toán tập trung của KBNN (gọi tắt là TSA), tạo điều kiện thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ theo chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020.

Theo kế hoạch, nghiệp vụ TTĐTSP được triển khai theo từng giai đoạn tương ứng với từng hệ thống NHTM (Vietinbank, BIDV, Agribank, Vietcombank) và không cùng lúc với thời điểm triển khai mở rộng nghiệp vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH). Với kế hoạch như vậy thì trong từng giai đoạn triển khai sẽ đồng thời tồn tại hai hệ thống thanh toán cũ (phân tán) và mới (tập trung) và sẽ làm cho đường đi của dòng tiền vốn KBNN trở nên phức tạp.

Một cơ chế quản lý và điều hành vốn KBNN cụ thể trong từng giai đoạn triển khai nghiệp vụ TTĐTSP là rất cần thiết để điều chỉnh dòng tiền vốn KBNN hoạt động thông thoáng, phục vụ tốt nhất cho các giao dịch thu, chi qua các đơn vị KBNN.

Thực trạng công tác thanh toán giữa KBNN cấp huyện và chi nhánh NHTM hiện nay

Đọc tiếp »

Thực tiễn thời gian qua đặt ra khá nhiều yêu cầu về hiệu quả của quản lý chi tiêu công ở nước ta như: đầu tư công dàn trải, phân bổ vốn chậm, tỷ lệ đầu tư cao, tăng trưởng kinh tế thấp, cơ chế quản lý chất lượng, hiệu quả đầu tư còn lỏng lẻo, sự lãng phí các nguồn lực ở các doanh nghiệp nhà nước, sự kém hiệu quả về kinh tế – xã hội của các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án,… Điều này đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải có những tiêu chí rõ ràng khi đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các dự án đầu tư để từ đó phát hiện, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những lãng phí, kém hiệu quả đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong kiểm toán các Dự án đầu tư xây dựng công trình vẫn còn gặp một số khó khăn:

Thứ nhất, đặc thù công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, đặc biệt là các công trình nhóm A, B nên việc so sánh tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả giữa các công trình gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, hầu hết công tác kiểm toán các dự án đầu tư mới chỉ dừng lại ở việc xác định chi phí đầu tư vào công trình, chưa thực sự kiểm toán một giai đoạn, hay một vòng đời của dự án. Do đó, kết quả kiểm toán khó có thể đưa ra ý kiến đánh giá được dự án hiệu quả hay không, có đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không.

Thứ ba, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình nên Kiểm toán Nhà nước (KTNN) chủ yếu thực hiện kiểm toán các công trình công. Do đó, khó đánh giá được lợi ích kinh tế tính được bằng tiền, nhiều công trình mang yếu tố chính trị, xã hội. Tính kinh tế hay không phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của kiểm toán viên.

Thứ tư, kinh nghiệm về kiểm toán hoạt động của KTNN Việt Nam chưa nhiều.Hiện nay, KTNN chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về phương pháp xây dựng các tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong kiểm toán hoạt động.

Thứ năm, hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành liên quan về quản lý đầu tư chưa đồng bộ, thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với thực tế.

Thứ sáu, hiểu biết về vai trò, tác dụng của kiểm toán hoạt động tại các đơn vị được kiểm toán chưa cao.Điều này tạo ra những khó khăn vướng mắc trong việc phối hợp xây dựng tiêu chí kiểm toán cho các cuộc kiểm toán hoạt động của KTNN trong những năm tới đây.

Một số chỉ tiêu cơ bản trong xây dựng tiêu chí kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình

Đọc tiếp »

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi NSNN được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán năm 2012 về niên độ ngân sách năm 2011 lại cho thấy, việc sử dụng kinh phí sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức tại các Bộ, ngành, địa phương lại có chiều hướng gia tăng.

Nhiều địa phương chi thường xuyên vượt dự toán

Kết quả kiểm toán việc sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên tại các Bộ, ngành, địa phương cho thấy, 21/28 địa phương được kiểm toán còn sử dụng sai nguồn kinh phí 1.840,4 tỷ đồng; 3/28 địa phương sử dụng sai nội dung nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên 9 tháng cuối năm; 16/28 tỉnh, thành phố chi hỗ trợ không đúng chế độ, nhiệm vụ chi 41,6 tỷ đồng; 28/28 địa phương được kiểm toán chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức là 196 tỷ đồng… Đáng chú ý là có tới 23/28 tỉnh, thành phố được kiểm toán đều chi thường xuyên vượt dự toán được HĐND giao đầu năm, trong đó 13/28 địa phương chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể vượt trên 30%; trong điều hành ngân sách còn sử dụng 386 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, nguồn thu tiền sử dụng đất, nguồn cải cách tiền lương, dự phòng… để chi thường xuyên sai quy định.

Đối với việc sử dụng nguồn dự phòng ngân sách, năm 2011 ngân sách Trung ương đã sử dụng dự phòng 9.400 tỷ đồng. Qua kiểm tra, đối chiếu vẫn còn 15/28 địa phương được kiểm toán sử dụng dự phòng cho một số nhiệm vụ chưa thực sự cấp bách như chi thường xuyên, chi hỗ trợ, chi bổ sung Quỹ Thi đua khen thưởng, chi sửa chữa mua sắm tài sản 238,6 tỷ đồng. Đặc biệt, trong khi hàng năm, NSNN vẫn phải đi vay và trả lãi thì việc cho vay sai quy định vẫn diễn ra phổ biến, 27/28 tỉnh được kiểm toán cho vay, tạm ứng kéo dài nhiều năm, chậm thu hồi 4.166 tỷ đồng; trong đó cho vay sai quy định 33 tỷ đồng, tạm ứng sai quy định 1.125 tỷ đồng, cho vay, tạm ứng chậm thu hồi 3.008 tỷ đồng.   

Năm 2011, Chính phủ sử dụng 1.020 tỷ đồng từ nguồn vượt thu và số dư dự toán chi ngân sách Trung ương để bổ sung vốn đầu tư phát triển cho các Bộ, ngành và 12.923,5 tỷ đồng để bổ sung vốn đầu tư phát triển cho các địa phương. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tăng thu không đúng quy định tại các địa phương chưa có chuyển biến tích cực, 14/28 địa phương được kiểm toán còn sử dụng 325 tỷ đồng nguồn tăng thu để chi thường xuyên, mua tài sản, hỗ trợ các đơn vị, chi trả nợ tạm ứng vốn nhàn rỗi.

Chi chuyển nguồn gia tăng

Đọc tiếp »

PGS, TS. ĐẶNG VĂN THANH

CHỦ TỊCH HỘI KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM

Tham luận này được tác giả trình bày tại Tọa đàm góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Ngân sách nhà nước, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, ngày 14/01/2014, Hà Nội.

Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16-12-2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Đến nay Luật đã thực hiên đước hơn 8 năm và đang trong năm tài khóa thứ 9. Qua hơn 8 năm thực hiện Luật đã đi vào cuộc sống đã phát huy mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo phát triển NSNN nhanh và vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – ngân sách được phân cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý ngân sách phù hợp với tiến trình cải cách hành chính Nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách; chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn phát triển tới. Điều thấy rõ nhất là quy mô ngân sách cứ 5 năm sau lại gấp hai lần số thu 5 năm trước. Bản thân Luật NSNN năm 2002 và thực tế đã cho thấy Luật bảo đảm các nguyên tắc cơ bản :

- Phù hợp và cụ thể hoá những sửa đổi, bổ sung có liên quan trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 (tháng 11,12/2001) thông qua;

- Quản lý tập trung thống nhất NSNN, bảo đảm quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời, tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương;

- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương theo hướng tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương và thúc đẩy địa phương phấn đấu để chủ động cân đối ngân sách. Tăng cường tính chủ động, gắn với trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị trong quản lý ngân sách và tài sản nhà nước; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng ngân sách với trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của bộ, ngành, địa phương, đơn vị.

- Thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, thực hiện và quyết toán ngân sách. Thực hiện công khai, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý NSNN. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi NSNN qua các quy định về tăng cường trách nhiệm, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán gắn với xử lý vi phạm.

Về sự cần thiết và quan điểm định hướng sửa đổi bổ sung

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN MINH TÂN

Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính – Ngân sách của Quốc hội

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, giám sát là một hình thức hoạt động nhằm bảo đảm pháp chế và sự tuân thủ những quy tắc chung trong xã hội. Các hoạt động kinh tế, tài chính và ngân sách giữ vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội, vì thế việc giám sát các hoạt động này là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Quy trình giám sát ngân sách nhà nước

Giám sát ngân sách nhà nước (NSNN) góp phần quan trọng vào việc đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NSNN. Kết quả giám sát NSNN chỉ ra mức độ chấp hành, tuân thủ những luật lệ, quy chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước. Do đó, giám sát NSNN là việc theo dõi, kiểm tra thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm xác định tình trạng NSNN, từ đó phát hiện sớm các vấn đề và có hướng xử lý kịp thời.

Hiện nay, việc giám sát NSNN tại Quốc hội được thực hiện theo quy trình lập và thẩm tra các báo cáo về dự toán NSNN, quyết toán NSNN. Cụ thể được xác định như sau: (i) Tại kỳ họp cuối năm (thường là kỳ chẵn và khai mạc vào khoảng 20/10 hàng năm): Quốc hội sẽ xem xét, quyết định dự toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) năm sau (còn gọi là năm kế hoạch/năm dự toán) trước ngày 15/11; (ii) Tại kỳ họp giữa năm (thường là kỳ lẻ và khai mạc vào khoảng 19/5): Quốc hội sẽ xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN (sau khi năm ngân sách đã kết thúc 18 tháng).

Các tài liệu chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội (bao gồm: Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính – Ngân sách, Báo cáo giám sát và Báo cáo thuyết minh có liên quan) phải được gửi đến đại biểu quốc hội trước 10 ngày kể từ ngày dự kiến khai mạc kỳ họp Quốc hội.

Đọc tiếp »

Chính sách tài khóa: Hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phải triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế).

Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt.

Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.

Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc

(ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc

(iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế.

Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm. Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫn đến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc

(ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc

(iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế.

Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao. Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó

Nguồn: Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb.Tư Pháp, Hà Nội.

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Những kẻ âm mưu và những kẻ chuyên quyền mọi thời đại đều vô cùng thích lạm dụng những lời lẽ về ý chí quốc gia. Những kẻ âm mưu thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu mua được bởi một vài người có thế lực trong chính quyền. Những kẻ chuyên quyền thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu của thiểu số dân đi bỏ phiếu vì tham hoặc vì sợ. Cái ý chí đó còn thể hiện trong sự im lặng của người dân và cho rằng từ sự phục tùng trên thực tế nảy sinh cho họ cái quyền chỉ huy."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được "hóa giá" với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng "nghe rất là buồn".

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

"Rất là buồn", nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,039,915 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers