You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat Kinh doanh bao hiem’ category.

Trần Vũ Hải

Nghị định 68/2014/NĐ-CP ngày 9/7/2014 sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2007/NĐ-CP đúng duy nhất một nội dung, đó là định nghĩa bổ sung về một loại bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm bảo lãnh. Theo đó, bảo hiểm bảo lãnh là hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chấp nhận rủi ro của người được bảo lãnh, trên cơ sở người được bảo lãnh đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
- Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
- Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

HỒNG ANH

Hợp đồng bảo hiểm là một trong những chế định và nội dung quan trọng của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Các quy định liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm được quy định trong Bộ Luật dân sự 33/2005/QH11 năm 2005 (BLDS) và Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi số 61/2010/QH12 năm 2010 (Luật KDBH) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trên thực tế, trong thời gian vừa qua các quy định liên quan đến thực hiện hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) trong các quy định của pháp luật đã bộc lộ khá nhiều bất cập, vướng mắc gây khó khăn cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật.

1. Quy định về xử lý hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp có gian dối

Các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đã có sự mâu thuẫn trong cách xử lý đối với trường hợp cung cấp thông tin sai sự thật, tuy nhiên nội dung này vẫn chưa được sửa đổi trong Luật sửa đổi Luật KDBH năm 2010.

Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 19 Luật KDBH về trách nhiệm cung cấp thông tin quy định: "Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường…". Tại khoản 3 Điều 19 cũng quy định: "Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật".

Việc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm về bản chất là hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng. Như vậy, tại Điều 19 này có thể nhận thấy việc “cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết Hợp đồng” chỉ dẫn đến hậu quả pháp lý là bên kia có thể đơn phương đình chỉ hợp đồng là chưa phù hợp với các quy định của BLDS cũng như các nguyên tắc trong giao kết Hợp đồng, ngoài ra chưa phù hợp với các quy định khác trong chính Luật KDBH. Cụ thể, tại Điều 22 của Luật KDBH lại quy định về các trường hợp HĐBH vô hiệu, trong đó có trường hợp: “Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệm bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm”, và “Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan”. Theo quy định của BLDS, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Như vậy, cùng một vấn đề đã có hai cách xử lý khác nhau cùng được quy định trong Luật KDBH.

Về mặt lý luận, nếu có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng đó phải vô hiệu vì đã không tuân thủ nguyên tắc trung thực khi giao kết. BLDS năm 2005 quy định, nếu một bên bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Điều 132 Bộ Luật dân sự năm 2005). Vì vậy, việc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm không thể dẫn đến hành vi đình chỉ thực hiện hợp đồng.(*)

Đọc tiếp »

NGÔ TRUNG DŨNG

PHÓ TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Vài nét về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN) được thành lập từ năm 1967, hiện tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn hóa xã hội. Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn kết hơn. Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vực phát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vực vào năm 2020. Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết đinh đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community- AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vào cuối năm 2015. Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày 31/12/2015. Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại.

Đọc tiếp »

ThS.NGUYỄN VIỆT HẢI

Trưởng ban Nhân thọ – Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Thị trường bảo hiểm nhân thọ ước đạt hơn 21,1 ngàn tỉ đồng tổng doanh thu phí, tăng trưởng trên 15% trong năm 2013, được đánh giá là sự kiện nổi bật nhất khi của hoạt động bảo hiểm nhân thọ trong bối cảnh hoạt động kinh tế chung của đất nước gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, sự ra đời của nhiều chính sách quan trọng, tích cực, hỗ trợ sự phát triển lâu dài của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ mới là điểm nổi bật nhất của thị trường bảo hiểm nhân thọ trong năm 2013.

1. Bảo hiểm hưu trí tự nguyện:

Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 115/2013/TT-BTC Hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện, có hiệu lực kể từ 15/10/2013, gồm 3 chương và 30 điều. Nội dung của Thông tư 115 ngoài các quy định chung, thông tư nêu rõ Quy định cụ thể về sản phẩm bảo hiểm hưu trí; thiết lập và quản lý quỹ hưu trí tự nguyện; tài khoản bảo hiểm hưu trí; trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm; khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ; đại lý bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm và phân phối bảo hiểm; tổ chức thực hiện.

Đọc tiếp »

QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2006/NĐ-CP NGÀY 08/11/2006 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 46/2012/NĐ-CP NGÀY 22/5/2012 QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ BẮT BUỘC

———-

Căn cứ Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy;

Căn cứ Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 8 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

Căn cứ Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 và Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn việc thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc trích lập kinh phí cho các hoạt động phòng cháy, chữa cháy (sau đây viết tắt là PCCC) và cơ chế quản lý cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn kinh phí này; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục 1 Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy (sau đây gọi là Nghị định số 35/2003/NĐ-CP), Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (sau đây gọi là Nghị định số 46/2012/NĐ-CP), doanh nghiệp bảo hiểm được phép kinh doanh bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đọc tiếp »

Lược thuật Hội thảo “Đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người” (là 2 loại hình bảo hiểm được nhận định phát sinh nhiều trường hợp trục lợi bảo hiểm nhất) do Cục QLGSBH và Hiệp hội bảo hiểm Việt nam phối hợp tổ chức ngày 17/8/2012

Trục lợi bảo hiểm là hành vi luôn tồn tại song hành với sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm. Trên thế giới, ở các nước ngành bảo hiểm có trình độ phát triển cao, trục lợi bảo hiểm cũng luôn là vấn đề lớn, gây thiệt hại cho xã hội và doanh nghiệp bảo hiểm. Ở Việt nam, hành vi trục lợi bảo hiểm diễn biến ngày càng phức tạp và gây những thiệt hại không nhỏ cho xã hội và cộng đồng các doanh nghiệp bảo hiểm. Vấn đề này đã được các doanh nghiệp bảo hiểm đề cập và thảo luận tại nhiều hội nghị, hội thảo. Tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm đều nhìn nhận tính chất nghiêm trọng của vấn đề và mong muốn toàn ngành bảo hiểm, từ góc độ cơ quan quản lý, hiệp hội bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm chung tay để từng bước hạn chế được vấn nạn này.

Trục lợi bảo hiểm và thực trạng hiện nay ở Việt Nam

            Trục lợi bảo hiểm là bất kỳ hành vi lừa dối nào nhằm kiếm lợi bất hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm. Trục lợi bảo hiểm rất đa dạng, dưới nhiều hình thức. Ngành bảo hiểm trên thế giới thông thường chia hành vi trục lợi làm 2 dạng : “Trục lợi cứng” (Hard Fraud) và “Trục lợi mềm”(Soft Fraud).

            “Trục lợi cứng” là hành vi khi một người cố tình lập hồ sơ khiếu nại cho một vụ tổn thất không có thật; hoặc cố tình khởi tạo một vụ tổn thất, tự phá hủy tài sản để đòi bồi thường bảo hiểm (ví dụ cố ý dàn dựng đâm va ô tô, tự đốt cháy tài sản …). “Trục lợi mềm”, hay còn được gọi là “trục lợi cơ hội” (opportunistic fraud), là hành vi người được bảo hiểm khai tăng khiếu nại hợp pháp của họ. Trục lợi “mềm” cũng có thể phát sinh khi bắt đầu mua một hợp đồng bảo hiểm mới, người tham gia bảo hiểm kê khai không trung thực các tình trạng hiện tại hoặc trước đây của đối tượng bảo hiểm nhằm mục đích hưởng lợi bất hợp pháp (như được hưởng một mức phí bảo hiểm rẻ hơn).

            Tổng hợp ý kiến của đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ tại Hội thảo “Đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người” (là 2 loại hình bảo hiểm được nhận định phát sinh nhiều trường hợp trục lợi bảo hiểm nhất) do Cục QLGSBH và Hiệp hội bảo hiểm Việt nam phối hợp tổ chức ngày 17/8/2012, có thể nhận thấy hành vi trục lợi, cả trục lợi “cứng’ và trục lợi “mềm”, đã xuất hiện, ngày càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng ở Việt Nam. Đa số trục lợi bảo hiểm là trục lợi “mềm” (trục lợi cơ hội), tuy nhiên cũng đã xuất hiện nhiều trường hợp trục lợi cứng như cố tình đốt cháy tài sản, xe cộ, giả mất cắp xe, ngụy tạo hồ sơ điều trị y tế khống…(*). Hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ về trục lợi bảo hiểm, tuy nhiên theo khảo sát của Bộ tài chính tại 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (PNT) lớn nhất Việt Nam năm 2010 cho thấy trục lợi bảo hiểm (bị phát hiện và từ chối bồi thường) lên tới trên 10%  số tiền bồi thường của doanh nghiệp (Thiệt hại do trục lợi không bị phát hiện và đã giải quyết bồi thường được nhận định cao hơn nhiều so với tỷ lệ này).

Tại sao trục lợi bảo hiểm ngày càng trở nên khó kiểm soát ở Việt Nam?

            Chúng ta thừa nhận trục lợi bảo hiểm là một vấn đề tồn tại song hành cùng ngành bảo hiểm ở mọi nước, không riêng ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo chúng tôi có một số yếu tố nổi bật dưới đây khiến trục lợi bảo hiểm ở Việt Nam ngày càng trở nên khó hạn chế và kiểm soát so với các thị trường bảo hiểm phát triển (tất nhiên những yếu tố này cũng tồn tại ở các thị trường bảo hiểm phát triển khác, nhưng ở Việt Nam chúng biểu hiện rõ rệt và có tính đặc trưng cao hơn).  Đó là:

Đọc tiếp »

DƯƠNG THỊ NHI

Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm (Bộ Tài chính)

Trên thực tế, chỉ đạo hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bội (KSNB) có thể là Hội đồng Quản trị (HĐQT), có thể là ban giám đốc, nên hoạt động kiểm soát chưa hoàn toàn độc lập. Bài viết này nói về thực trạng hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp (DN) bảo hiểm, cũng như gợi mở hướng cải thiện hoạt động này.

Chưa đồng bộ và chưa quy chuẩn
Từ năm 2007, tại Điều 15 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP quy định chi tiết về Luật Kinh doanh bảo hiểm đã có quy định về kiểm tra, KSNB. Năm 2012, cụ thể hóa các quy định về kiểm tra, KSNB tại Nghị định 45, Điều 36 Thông tư số 124/2012/TT-BTC đã hướng dẫn chi tiết về hoạt động kiểm tra, KSNB của DN bảo hiểm. Theo đó, DN bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài phải xây dựng, ban hành quy trình nghiệp vụ và tổ chức kiểm tra, KSNB.
Quy trình kiểm tra, KSNB phải được cấp có thẩm quyền quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động (đối với DN bảo hiểm) hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động (đối với chi nhánh nước ngoài) ban hành bằng văn bản và phải cho phép kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy trình nghiệp vụ; phải thông báo quy trình kiểm tra, KSNB đến tất cả người lao động của DN để người lao động nhận thức được tầm quan trọng và tham gia một cách có hiệu quả vào hoạt động kiểm tra, KSNB; người điều hành các bộ phận, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, KSNB; mọi khiếm khuyết của hệ thống này phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; những khiếm khuyết lớn có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay tổng giám đốc (giám đốc), chủ tịch HĐQT (chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty), ban kiểm soát; trưởng các bộ phận của DN bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài báo cáo, đánh giá về kết quả kiểm tra, KSNB tại bộ phận do mình phụ trách hoặc trong phạm vi nhiệm vụ được giao; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp.

Đọc tiếp »

Đã có không ít định chế tài chính thất bại với mô hình bancassurance như ING, Standard Life. Mô hình ngân hàng kết hợp bảo hiểm – Bancassurance không ưu việt như từng được tung hô.

Có nhiều lý do để ngân hàng và đơn vị bảo hiểm tham gia bancassurance, mô hình bán các sản phẩm bảo hiểm thông qua mạng lưới của ngân hàng. Đối với ngân hàng, trong bối cảnh cạnh tran

h lãi suất khiến cho lợi nhuận bị sụt giảm, việc bán bảo hiểm (hưởng hoa hồng) giúp mang lại nguồn thu ổn định và ít rủi ro, trong khi không đòi hỏi vốn đầu tư lớn (ngân hàng có thể tận dụng chi nhánh và nhân lực sẵn có). Đối với đơn vị bảo hiểm, khi bán sản phẩm thông qua ngân hàng, họ không cần phải phát triển mạng lưới và thương hiệu, từ đó giúp tiết giảm chi phí, hạ giá thành để nâng cao tính cạnh tranh. Thông qua mối liên kết, cả ngân hàng lẫn đơn vị bảo hiểm sẽ có cơ hội cung cấp nhiều sản phẩm tài chính hơn nhằm giữ chân khách hàng tốt hơn.

Đó là lý do ở Việt Nam có nhiều ngân hàng mở công ty bảo hiểm riêng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) có ABIC, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có BIC, Ngân hàng Công Thương Việt Nam có Bảo hiểm Bảo Ngân… Ngược lại, Bảo Việt, tập đoàn bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, cũng lập nên ngân hàng riêng là Baoviet Bank nhằm hướng tới hoàn thiện mô hình “siêu thị tài chính Bảo Việt.”

Đọc tiếp »

ThS. HOÀNG LÊ NGUYÊN

Chính thức có hiệu lực từ ngày 01/10/2012, Thông tư số 125/2012/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 30/7/2012, hướng dẫn chế độ tài chính đối với các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được kỳ vọng sẽ tiếp tục tạo ra những chuyển biến tích cực trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Với những quy định “chuẩn” về tài chính mới sẽ giúp các doanh nghiệp bảo hiểm “nâng chất” quản trị tài chính, hướng tới an toàn và minh bạch.

An toàn vốn trong đầu tư tài chính

Thông tư số 125/2012/TT-BTC (Thông tư 125) thay thế Thông tư số 156/2007/TT- BTC ngày 20/12/2007, ra đời trong bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư tài chính tại Việt Nam. Một số doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong nước thời gian qua đã có những khoản đầu tư tài chính thiếu hiệu quả, thậm chí thua lỗ, mất vốn. Bởi vậy, một trong những nội dung quan trọng của Thông tư 125 là an toàn trong đầu tư tài chính. Cụ thể, tại Mục 3, “Đầu tư tài chính”, các Điều từ 11 đến 13 đều tập trung cho nội dung này.

Điều 11 quy định DNBH không được đi vay để đầu tư trực tiếp (hoặc uỷ thác đầu tư) vào chứng khoán, bất động sản, góp vốn vào DN khác; Không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông (thành viên) góp vốn hoặc người có liên quan quy định tại Luật DN, trừ tiền gửi tại các cổ đông (thành viên) là tổ chức tín dụng. Việc đầu tư dưới hình thức gửi tiền tại các tổ chức tín dụng (bao gồm cả các tổ chức tín dụng là cổ đông, thành viên góp vốn), DNBH phải lựa chọn các tổ chức tín dụng thuộc nhóm 1 và nhóm 2 theo đánh giá xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước. Khoản đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ và các nguồn hợp pháp khác, DNBH phải hạch toán tách bạch theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc ghi nhận các tài sản đầu tư được thực hiện một cách nhất quán. Việc đầu tư ra nước ngoài phải được Bộ Tài chính chấp thuận trước khi thực hiện.

Như vậy, chỉ với riêng Điều 11 của Thông tư 125, nguyên tắc đầu tư tài chính an toàn đã xác định rõ khi đã loại trừ tổ chức tín dụng thuộc nhóm 3 ra khỏi danh mục nói gửi tiền của DNBH và yêu cầu các DNBH không được đi vay để đầu tư tài chính, đặc biệt là chứng khoán và bất động sản, hai lĩnh vực gây rủi ro lớn gần đây.

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010;

Căn cứ Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

Căn cứ Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm;

Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

Thông tư này hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, sức khoẻ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Điều 2. Nguyên tắc quản lý, giám sát tài chính

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, sức khoẻ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng vốn, giám sát hoạt động tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của mình theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Đọc tiếp »

Năm 2012 đi qua với nhiều khó khăn, thách thức hơn cả dự kiến, khiến ngành bảo hiểm không về đích đúng kế hoạch ban đầu với mục tiêu tăng trưởng 17%. Tuy nhiên, nỗ lực của các doanh nghiệp (DN) bảo hiểm nhằm khắc phục khó khăn là điểm đáng ghi nhận trong chặng đường gian nan đó, bởi so với các ngành nghề khác trong nền kinh tế thì tốc độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm năm 2012 vẫn thuộc top đầu.

Nhìn lại năm cũ…

Ông Phùng Đắc Lộc, Tổng Thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam chia sẻ, năm 2012 ngoài việc gặp khó khăn của “bẫy thu nhập trung bình” của một nước mới thoát nghèo, Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Năm 2012, với GDP ước đạt 5,3%, tăng trưởng tín dụng khoảng 7% – 8%, đầu tư công trên 30% GDP, nhu cầu bảo hiểm của DN và người dân bị ảnh hưởng nhiều, khiến các chỉ tiêu đề ra của thị trường thấp hơn dự kiến. Cụ thể, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 40.858 tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2011, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 22.942 tỷ đồng, tăng 11,5% và doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 17.916 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2011. Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm ước khoảng 15.856 tỷ đồng, trong đó các DN bảo hiểm nhân thọ ước đạt 6.679 tỷ đồng, DN bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 9.177 tỷ đồng. Năm 2012, tổng số tiền DN bảo hiểm tích lũy đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 90.591 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2011. Trong đó, các DN nhân thọ ước đạt 66.361 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2011, DN phi nhân thọ ước đạt 24.230 tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2011.

Đọc tiếp »

“Không cứu nạn thành công, không phải trả” là nguyên tắc được nhiều người biết đến trong hoạt động cứu nạn hàng hải giờ đây thường được sử dụng trong hoạt động môi giới bảo hiểm. Bà Jennifer Chen của Văn phòng Decons Thượng Hải nhấn mạnh đến sự cần thiết của các nhà môi giới bảo hiểm tại Trung Quốc phải ký hợp đồng môi giới bảo hiểm và nhấn mạnh những điểm quan trọng cần phải xem xét.

Thường thì khoản tiền thù lao môi giới bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm chi trả qua việc môi giới với khách hàng bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm tiềm năng, những người không phải trả cho nhà môi giới bảo hiểm bất kỳ khoản dịch vụ phí nào cho những thứ mà do nhà môi giới bảo hiểm cung cấp.

Đối với trường hợp nhà môi giới bảo hiểm thiết kế một chương trình bảo hiểm thương mại cho khách hàng và thu thập được các bản chào bán từ các công ty bảo hiểm chỉ để tìm ra khách hàng sử dụng chương trình đã thiết kế sẵn và nhân danh công ty môi giới gửi các yêu cầu bảo hiểm đó tới các công ty bảo hiểm thì sẽ không được trả tiền môi giới hay không được trả bất kỳ khoản phí dịch vụ nào.

Trong trường hợp đó, nhà môi giới bảo hiểm phải cố gắng và bảo vệ lợi ích của mình bằng cách ký kết một hợp đồng dịch vu môi giới với khách hàng, thiết lập các điều khoản trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong hợp đồng một cách rõ ràng, chính xác. Sự cần thiết của hợp đồng môi giới là hoàn toàn được chấp nhận trên toàn thế giới đặc biệt tại các quốc gia có hoạt động môi giới phát triển.

Các quy định ban hành bởi CIRC (Cơ quan quản lý bảo hiểm Trung Quốc) năm 2009

Đọc tiếp »

Những người làm bảo hiểm vi mô đang ngày càng chú ý nhiều hơn đến cách thức mà khách hàng có thể kết hợp tiết kiệm với bảo hiểm. Trong khi các sản phẩm có thể là đơn giản với khách hàng nhưng chúng lại phức tạp ở khâu quản lý.

Những người sẽ tham gia vào thị trường bảo hiểm vi mô nên sớm nhận ra nhu cầu quan trọng nhất của khách hàng trước khi chuyển họ sang thiết kế các sản phẩm ưu tiên và giải quyết hàng loạt những đánh đổi ví dụ như chọn ra cách thức hợp lý giữa tính đơn giản và tính linh hoạt.

Ưu tiên hàng đầu những nhu cầu của khách hàng là con đường tới thành công

Bảo hiểm và tiết kiệm giữ vị trí quan trọng để giúp những người có thu nhập thấp quản lý rủi ro của họ. Những cú sốc do những sự việc không vui xảy ra ví dụ như ốm đau, tử vong hoặc thời tiết xấu có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình.

Một mặt, tiết kiệm giúp những hộ gia đình có thu nhập thấp xây dựng kế hoạch cho sự phát triển của gia đình và học tập của con cái, đầu tư vào các cơ hội kinh doanh, nâng cao tiền công năng xuất và bảo vệ gia đình khỏi những rủi ro bất ngờ. Tuy nhiên, những người nghèo thường sử dụng tiền tiết kiệm của mình như một bước đệm để giải quyết khó khăn ngăn cản họ trong việc đầu tư cho tương lai. Mặt khác, bảo hiểm cũng giữ vai trò lớn trong việc mang lại sự bảo vệ trước những sự kiện không mong đợi bằng cách chia đều chi phí bảo vệ cho một nhóm khách hàng cùng chia sẻ rủi ro, làm giảm nhẹ sự thâm hụt thu nhập, giữ vững được vốn sinh lợi.

Đọc tiếp »

Khi mà tuổi thọ trung bình đang ngày càng tăng trên toàn thế giới thì các vấn đề nảy sinh từ sự già hóa dân số cũng trở nên nghiêm trọng hơn, đòi hỏi phải có một thị trường bảo hiểm tuổi thọ đủ mạnh. Mặc dù yêu cầu đặt ra là cấp thiết nhưng việc quản lý rủi ro tuổi thọ cũng như các sản phẩm bảo hiểm tuổi thọ ở Châu Á vẫn còn kém phát triển. Đi sâu tìm hiểu về những vấn đề ẩn chứa bên trong sẽ là chìa khóa thành công để tìm ra những giải pháp đột phá, khả thi mang tính thực tiễn. Ông Jackie Li thuộc Trung tâm nghiên cứu rủi ro bảo hiểm và tài chính bàn luận về những vấn đề cơ bản và phân tích các phương hướng mà các doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng để quản lý rủi ro tuổi thọ.

Có một hiện tượng chung trên toàn cầu đó là tuổi thọ trung bình đang tiếp tục tăng lên mà không có dấu hiệu sẽ ngừng lại hay đi ngược lại với xu thế chung trong tương lai. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng không phải là ngoại lệ.

Tuổi thọ trung bình tăng

            Năm 1980, phụ nữ ở tuổi 65 được kỳ vọng sẽ sống thêm trung bình là 17 năm nữa. Năm 1990, con số này tăng lên là 22 năm. Đối với nam giới, tuổi thọ trung bình của những người ở tuổi 65 đã tăng từ 14 lên 18 năm nữa trong cùng khoảng thời gian như trên. Như vậy, con số tăng trung bình là 1,5 năm trên một thập kỷ, và xu hướng tăng này dường như là liên tục. Tuổi thọ trung bình tăng phản ánh sự phát triển đáng kể của kinh tế, điều kiện sống, giáo dục, chăm sóc y tế và công nghệ y học. Tuy nhiên, điều đó cũng gây nên hàng loạt những vấn đề liên quan đến rủi ro tuổi thọ khác nhau với từng đối tượng liên quan khác nhau.

Rủi ro tuổi thọ là gì?

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Chín 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 8    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,116,044 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 134 other followers