You are currently browsing the category archive for the ‘Phap luat chung khoan’ category.

Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Để áp dụng đúng và thống nhất các qui định của Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn như sau:

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được qui định tại Điều 108 của Luật quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được qui định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác qui định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

Đọc tiếp »

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư gián tiếp để thực hiện các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Thông tư này áp dụng với các đối tượng sau:

a) Nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam;

b) Các tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

2. Thông tư này không điều chỉnh đối với đối tượng nhà đầu tư nước ngoài là người cư trú là tổ chức và cá nhân nước ngoài. Các đối tượng này thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo quy định hiện hành về pháp luật chứng khoán và các văn bản quy phạm pháp luật khác có Iiên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Đọc tiếp »

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Căn cứ Luật Giá ngày 20 tháng 06 năm 2012;

Căn cứ Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư bất động sản.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định việc huy động vốn, thành lập, quản lý và giám sát hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư bất động sản, được tổ chức và hoạt động dưới hình thức quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng hoặc công ty đầu tư chứng khoán đại chúng.

2. Đối tượng áp dụng của Thông tư này bao gồm:

a) Công ty quản lý quỹ, ngân hành lưu ký, ngân hàng giám sát, tổ chức thẩm định giá;

b) Quỹ đầu tư bất động sản, công ty đầu tư chứng khoán bất động sản;

c) Ban đại diện quỹ, hội đồng quản trị công ty đầu tư chứng khoán bất động sản, các nhà đầu tư, cổ đông của quỹ đầu tư bất động sản, công ty đầu tư chứng khoán bất động;

d) Các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Đọc tiếp »

PGS,TS. LÊ THỊ THU THỦY – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

ThS. Đỗ Minh Tuấn – Công ty Luật Châu Á

 1. Phát triển bền vững thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) đã bước qua tuổi 12 với nhiều thành tựu đáng kể. Từ ngày đầu mới thành lập, với chỉ hai công ty niêm yết, cho đến nay đã có trên 800 công ty niêm yết và đăng ký giao dịch. TTCKVN trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế với số vốn huy động trên 700.000 tỷ đồng[1]. Tuy vậy, TTCKVN đang bộc lộ nhiều tồn tại, thể hiện qua: thứ nhất, hàng hóa trên TTCKVN chưa đa dạng về thể loại và còn kém về chất lượng. Thứ hai, cơ cấu nhà đầu tư (NĐT) chưa hợp lý, chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân tham gia TTCK. Thứ ba, mặc dù đã có tới hai Sở giao dịch chứng khoán, nhưng vẫn chưa có cơ sở pháp lý cho thị Hoàn thiện pháp luật để phát triển bền vững thị trường chứng khoántrường OTC hình thành. Thứ tư, các công ty chứng khoán (CTCK) của Việt Nam rất đông về số lượng nhưng còn yếu kém về chất lượng. Các CTCK hiện nay vẫn chủ yếu là nhà môi giới chứng khoán, không nhiều công ty có khả năng đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường hay là nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán. Thứ năm, trên TTCKVN chưa có sự hiện diện của tổ chức định mức tín nhiệm. Thứ sáu, TTCKVN chưa bảo đảm tính minh bạch. Thứ bảy, việc quản lý, giám sát TTCKVN được thực hiện trực tiếp bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) – dù trong những năm qua đạt được rất nhiều thành tựu – nhưng vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định.

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 06 năm 2006;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư Giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn việc giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán có tổ chức.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các chủ thể giám sát và đối tượng giám sát dưới đây:

1. Chủ thể giám sát:

a. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (sau đây viết tắt là UBCKNN);

b. Sở Giao dịch Chứng khoán (sau đây viết tắt là SGDCK).

2. Đối tượng giám sát là các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình giao dịch, cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán, bao gồm:

a. Tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch;

b. Công ty chứng khoán (sau đây viết tắt là CTCK); Thành viên lưu ký của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (sau đây viết tắt là TTLKCK);

c. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán;

d. SGDCK, TTLKCK khi tham gia cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán;

đ. Các đối tượng liên quan (Ngân hàng giám sát, Ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ mở tài khoản tiền gửi đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư).

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Đọc tiếp »

Luattaichinh: trong khi chưa biết cách xử lý rác, cách tốt nhất mà người ta có thể nghĩ ra được là tìm chỗ giấu rác!                                                                   ___________________________________________________

Nhiều khả năng Công ty quản lý tài sản (VAMC) với vốn khoảng 100.000 tỷ đồng sẽ được thành lập để xử lý nhanh nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Giải pháp được nhiều chuyên gia khuyến nghị này đang khiến cho nhiều người kỳ vọng ngành ngân hàng, bất động sản (BĐS)sẽ ấm áp trở lại.

Rầm rập tăng giá, vét hàng

Sáng 12/11 – một ngày trước khi Thống đốc Nguyễn Văn Bình đăng đàn trả lời chất vấn trực tiếp trước Quốc hội về một số vấn đề như “nhóm lợi ích”, xử lý nợ xấu giao cho Ngân hàng Nhà nước (NNNH) thực hiện… và các vấn đề bàn cãi lâu nay dường như một lần nữa được khẳng định.

Đọc được hy vọng, thị trường chứng khoán (TTCK) đã bất ngờ giao dịch khá sôi động với nhiều mã thuộc nhóm ngân hàng, BĐS tăng mạnh.

Trên sàn Hà Nội, cổ phiếu SHB của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội giao dịch rất mạnh, khớp lệnh hơn 6,5 triệu cổ phiếu với sức cầu rất lớn. Cho dù thua lỗ hơn 1.700 tỷ trong do phải trích lập các khoản dự phòng nợ xấu của Habubank nhưng kỳ vọng vào hoàn nhập cuối năm và sự hình thành của công ty quản lý tài sản (VAMC) đã khiến giới đầu tư mua vào ồ ạt. Tới cuối phiên, SHB tăng trần lên 5.200 đồng/cp với gần 10 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng, dư mua giá trần hơn 0,8 triệu đơn vị.

Cổ phiếu EIB tiếp tục thỏa thuận gần 5,3 triệu cổ phiếu ở mức giá 15.300 đồng/cp, trong khi trên sàn EIB đóng cửa tăng 100 đồng lên 14.900 đồng/cp.

Cổ phiếu NVB của Nam Việt – ngân hàng theo lời của Thống đốc NHNN, nằm trong nhóm “báo cáo có lãi nhưng qua thanh tra làm rõ thực tế là lỗ, giảm vốn điều lệ, thậm chí không còn vốn điều lệ” cũng giao dịch hơn 4,6 triệu đơn vị.

Nhóm cổ phiếu BĐS cũng có sức tăng mạnh mẽ. Cổ phiếu SCR của Công ty Cổ phần Địa ốc Sài Gòn Thương Tín (Sacomreal) cuối phiên tăng hết biên độ cho phép lên 4.300 đồng/cp với gần 3,5 triệu đơn vị được chuyển nhượng, dư mua giá trần còn hơn 1,2 triệu đơn vị.

Một loạt cổ phiếu BĐS khác cũng tăng trần và dư mua lớn như: NTL, HBC, VCG, THV, NTB… cho dù đa số đang ngập chìm trong nợ nần và tồn kho.

Những thông tin ban đầu cho thấy, nhiều khả năng công ty quản lý tài sản (VAMC) sẽ được thành lập với vốn khoảng 100 ngàn tỷ đồng. Đề án đã được trình lên Chính phủ để thống nhất và xin ý kiến các cơ quan lãnh đạo cấp cao.

Đọc tiếp »

ThS. NGUYỄN THANH HUYỀN

Bức tranh thị trường trái phiếu năm 2011

Mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2011 – 2020 là tăng quy mô, độ sâu và tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán; Phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa trị trường cổ phiếu đạt khoảng 70% GDP vào năm 2020; Đưa thị trường trái phiếu trở thành một kênh huy động và phân bổ vốn quan trọng cho phát triển kinh tế; Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn và đào tạo nhà đầu tư cá nhân. Nhiệm vụ phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là thị trường trái phiếu chính phủ được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu trong của Chiến lược.

Năm 2011, kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức từ cả những yếu tố bên ngoài (khủng hoảng nợ công, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao…) lẫn các yếu tố nội tại của nền kinh tế (lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao; hệ thống tài chính bộc lộ nhiều vấn đề phải giải quyết; sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) rất khó khăn; hoạt động đầu tư toàn xã hội bị thu hẹp do ưu tiên trong chính sách điều hành kinh tế là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Đọc tiếp »

Hà Nội, ngày 16 tháng 03 năm 2011

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng

khoán (sau đây gọi tắt là vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán) là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây gọi tắt là Nghị định 85) phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 2. Áp dụng các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

1. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán phải được tiến hành kịp thời, công khai, minh bạch và triệt để. Mọi hậu quả do hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật.

2. Khi ra quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định tại Điều 8, Điều 9 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Điều 6 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 (sau đây gọi tắt là Nghị định 128) và một số quy định cụ thể sau đây:

Đọc tiếp »

ThS.PHAN PHƯƠNG NAM

Giao dịch chứng khoán là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Chính hoạt động giao dịch chứng khoán là nơi cụ thể hóa các khoản lợi nhuận, các hành vi mua, bán chứng khoán của NĐT chứng khoán. Tuy nhiên, theo nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), những NĐT chứng khoán không thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi thông tin và mua, bán chứng khoán trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng khoán khác. Các NĐT chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khoán thông qua chủ thể trung gian, công ty chứng khoán (CTCK). Do đó, để thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, các NĐT chứng khoán phải có tài khoản mở tại một CTCK và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khoán thông qua tài khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK. Với hình thức này, các NĐT đã không trực tiếp nắm giữ tiền hoặc chứng khoán của mình sở hữu mà tất cả đều ký thác vào tài khoản tại CTCK. Vì thế, về mặt nguyên tắc, rõ ràng các NĐT cần phải được pháp luật bảo vệ trong quá trình giao dịch nhằm giúp NĐT có thể quản lý chặt chẽ tài sản của mình (gồm tiền và chứng khoán trên tài khoản) cũng như đảm bảo CTCK sẽ thực hiện các lệnh khách hàng.

Cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trên TTCK được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong trình NĐT mở tài khoản, sử dụng tài khoản và quản lý tài khoản chứng khoán mở tại các CTCK.

Như vậy, cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trong giai đoạn giao dịch trên TTCK sẽ bao gồm ba nội dung: pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và CTCK; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình đặt lệnh; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình khách hàng quản lý tài khoản.

Đọc tiếp »

TRẦN VŨ HẢI

Thế nào là Quỹ đầu tư chứng khoán?

Trong hoạt động kinh doanh, đầu tư được hiểu là việc cá nhân, tổ chức sử dụng tài sản để tiến hành hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu thu được lượng tài sản nhiều hơn trong tương lai. Lĩnh vực đầu tư rất phong phú, từ việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá, đến việc góp vốn, mua cổ phần hay đơn giản là việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng hoặc tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Một trong những lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn, không những về khả năng sinh lời mà còn ở tính hấp dẫn của nó, đó chính là đầu tư chứng khoán. Đầu tư chứng khoán được hiểu là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ vọng vào lợi nhuận do chứng khoán đó mang lại trong tương lai. Lợi nhuận có thể thu được từ lãi chứng khoán đang nắm giữ hoặc chênh lệch từ hoạt động mua, bán chứng khoán.

Tình huống: Ông Lợi quyết định mua 1000 chứng chỉ quỹ đầu tư mệnh giá 10000đ với giá 12000 đ/chứng chỉ vào ngày 31/12/2004. Lợi tức trả năm 2005 của quỹ là 10%. Sau khi nhận lợi tức, ông Lợi quyết định bán số chứng khoán này cho bà Nhuận, với mức giá 13500 đ/chứng chỉ.

Như vậy, lợi nhuận mà ông Lợi thu được là:

(13500 x 1000 + 10000 x 1000 x 10%) – 12000 x 1000 = 2500000 đ

Cũng giống như các lĩnh vực đầu tư khác, đầu tư chứng khoán có thể được phân chia thành hai loại là đầu tư chuyên nghiệp và đầu tư không chuyên nghiệp.

Đầu tư chuyên nghiệp là hoạt động của các chủ thể trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán như các công ty chứng khoán, ngân hàng hoặc những định chế đầu tư chuyên nghiệp khác. Những chủ thể này có nguồn vốn dồi dào, có kỹ năng chuyên môn và sẵn sàng chấp nhận rủi ro để thu lợi nhuận. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thường có những dấu hiệu như:

- Hoạt động đầu tư chứng khoán là hoạt động chính của chủ thể đó;

- Hoạt động đầu tư chứng khoán mang lại nguồn thu nhập chính;

- Nhà đầu tư chứng khoán có kiến thức và kỹ năng tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán.

Những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thường được biết đến là các công ty chứng khoán tự doanh, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm và một số tổ chức tài chính khác.

Bên cạnh những nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, có những chủ thể có thể không đủ kiến thức hoặc kỹ năng để tự mình đầu tư, hoặc không coi đó là nghề nghiệp của mình nhưng vẫn có nguyện vọng tham gia đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán để tăng thu nhập. Những chủ thể này được gọi là những nhà đầu tư không chuyên nghiệp.

Ông An là một nhà giáo đã nghỉ hưu. Ông có một khoản tiết kiệm và muốn nó sinh lời nhiều hơn so với việc ông gửi tiền vào ngân hàng. Ông quyết định đầu tư vào chứng khoán, nhưng ông không am hiểu lắm về lĩnh vực này. Thông qua tư vấn của luật sư, ông quyết định mở một tài khoản tại công ty chứng khoán ABC và uỷ thác việc đầu tư cho công ty này. Nhân viên hành nghề chứng khoán của công ty có trách nhiệm sử dụng tiền và chứng khoán trên tài khoản của ông An để mua, bán chứng khoán vì lợi ích của ông.

Trong những trường hợp như vậy, những chủ thể này có thể đầu tư thông qua việc uỷ thác cho công ty chứng khoán hoặc tham gia góp vốn để hình thành một quỹ tài chính, gọi là Quỹ đầu tư chứng khoán.

ThS. TRẦN MẠNH DŨNG
Nghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Macquarie, Úc

Việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu được coi là vấn đề trung tâm trong việc quyết định quy mô của chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong mô hình chiết khấu luồng tiền, lựa chọn tỷ lệ chiết khấu tùy ý có thể được sử dụng một cách cơ hội để xuyên tạc giá trị hiện tại, chi phí giảm giá trị của tài sản, lợi nhuận và ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của các khoản mục trên Báo cáo tài chính (BCTC).

Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về hành vi cơ hội trong việc kiểm soát chi phí và lợi nhuận thông qua việc kiểm tra giảm giá trị của tài sản. Bằng việc so sánh tỷ lệ chiết khấu ước tính và tỷ lệ chiết khấu do các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông trình bày trong thời kỳ từ năm 2005 đến năm 2007, nghiên cứu phát hiện ra rằng có sự biến động lớn về tỷ lệ chiết khấu áp dụng giữa các năm theo hướng tỷ lệ chiết khấu được áp dụng cao hơn mức hợp lý.

1. Giới thiệu
Lợi thế thương mại (LTTM) là một trong các chủ đề gây tranh luận nhất trên thế giới. Trước đó, LTTM được mô tả như là sự không nhìn thấy được, không tin cậy, có thể rắc rối và hay thay đổi trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo. Sau nhiều năm tranh luận gay gắt, LTTM vẫn được coi như là chỉ tiêu lạc lõng trên BCTC.
Với bản chất vô hình của LTTM và có nhiều cách hiểu khác nhau, vì vậy có nhiều sự thay đổi trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo nó trên BCTC. Qua thời gian và hệ thống pháp lý, sự lộn xộn trong việc ghi nhận, đo lường và báo cáo nó được mô tả trong các chuẩn mực kế toán. Cụ thể, LTTM được ghi giảm vào quỹ dự phòng hoặc vào lợi nhuận chưa phân phối; vốn hóa LTTM và chỉ ghi giảm khi có đủ bằng chứng; vốn hóa LTTM và khấu hao định kỳ theo phương pháp bình quân; và vốn hóa LTTM và tiến hành kiểm tra giảm giá trị của LTTM hàng năm.
Trong ngữ cảnh của Hồng Kông, sự tranh luận về kế toán LTTM và tài sản cố định vô hình đã diễn ra nhiều năm với nhiều phương pháp ghi nhận, đo lường và báo cáo. Phương pháp khấu hao bắt buộc hàng năm đã bị thay thế bằng phương pháp mới, sự giảm giá trị của LTTM mà phương pháp mới này dựa trên rất nhiều các giả định mang tính chủ quan.
Theo Chuẩn mực Kế toán Hồng Kông số 36 (HKAS 36) “Giảm giá trị của tài sản”, có hai phương pháp để xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản là phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng. Trong việc áp dụng phương pháp giá trị sử dụng, mô hình chiết khấu luồng tiền được coi là mô hình có độ tin cậy cao để xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản, qua đó so sánh với giá trị ghi sổ của tài sản để xác định chi phí giảm giá trị của tài sản. Trong mô hình này, tỷ lệ chiết khấu được coi là rất quan trọng trong việc chiết khấu luồng tiền tương lai về giá trị hiện tại.

Đọc tiếp »

HOÀNG XUÂN

Sau một thời gian dài trầm lắng, làn sóng chia cổ phiếu thưởng lại xuất hiện trở lại trên thị trường chứng khoán

Sau một thời gian dài trầm lắng, làn sóng chia cổ phiếu thưởng lại xuất hiện trở lại trên thị trường chứng khoán.
Nhiều nhà đầu tư – dù trước đó đã thua lỗ đến sạt nghiệp – vẫn đua theo trào lưu và quên luôn bài học “vỡ lòng” về đầu tư đó.
Các doanh nghiệp khi chọn hình thức chia thưởng cổ phiếu có muôn vàn lý do. Có doanh nghiệp chia thưởng trong năm 2009 nhằm hỗ trợ cổ đông không phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Nhưng cũng có những doanh nghiệp chọn hình thức này để tăng vốn điều lệ, từ đó tăng năng lực tài chính và có cơ hội tiếp cận khoản vay lớn hơn để thực hiện các dự án lớn…
Còn về phía thị trường, nhất là trong giai đoạn thị trường khởi sắc, thông tin chia thưởng cổ phiếu được xem như một lực đỡ quan trọng cho giá chứng khoán tăng hàng ngày.
Đối với những cổ phiếu có thị giá cao, việc chia tách sẽ gia tăng tính thanh khoản do giá cổ phiếu đã được điều chỉnh giảm theo tỷ lệ chia thưởng. Những nhà đầu tư ít vốn sẽ có cơ hội đầu tư khi có cảm giác cổ phiếu đã rẻ đi. Việc cho phép nhiều nhà đầu tư có mức tiền vừa phải sẽ tham gia nhiều hơn, làm tăng cầu chứng khoán và khi cầu chứng khoán tăng sẽ tác động làm tăng giá chứng khoán.
“Trong chừng mực nào đó, việc phát hành cổ phiếu thưởng giống như doanh nghiệp chia nhỏ cổ phần để giá mỗi cổ phiếu sau khi chia nhỏ sẽ giảm xuống, tạo tính thanh khoản trên thị trường. Thưởng cổ phiếu là một nghiệp vụ làm tăng số lượng cổ phiếu, chứ không làm gia tăng giá trị vốn cổ phần.
Nói cách khác, về phương diện hạch toán kế toán, đó chẳng qua là một bút toán chuyển từ tài khoản thặng dư vốn – capital surplus (có công ty lấy từ quỹ đầu tư phát triển) sang vốn điều lệ (capital stock – tính trên mệnh giá) của bảng cân đối kế toán một công ty. Như vậy, việc tăng giá từ thông tin này cũng chỉ dừng lại ở một mức độ hợp lý nhờ tính thanh khoản của cổ phiếu cao hơn trước”, một chuyên gia chứng khoán cho biết.
Dễ gây hiểu lầm
Theo ông Lưu Trung Dũng, sáng lập viên Công ty Cổ phần Đào tạo và Tư vấn đầu tư (DoBF), khái niệm “cổ phiếu thưởng” bấy lâu cũng đã gây hiểu lầm đối với nhiều người ngay cả trong giới đầu tư. Tuy nhiên, về lâu về dài cũng nên có một khái niệm thích hợp hơn để gọi số cổ phiếu này.

Đọc tiếp »

TUẤN NGUYỄN

Khi so sánh P/E nhiều người liên tưởng đến tính “đắt” hay “rẻ” nhưng đơn giản nhất có thể hiểu P/E là thời gian hòa vốn tính theo năm của một cổ phiếu nếu toàn bộ thu nhập tạo ra từ công ty được trả hết cho cổ đông.

Có nhiều loại P/E khác nhau dựa trên yếu tố “E”. Nếu E là lãi trên cổ phiếu của năm tài chính gần nhất thường được gọi là “P/E lịch sử”. Nếu E là lãi trên cổ phiếu của 4 quý gần nhất thì khái niệm đó là “P/E tính trượt” và nếu E là lãi trên cổ phiếu của năm dự báo thì đó là “P/E dự báo”.  

Lý thuyết đơn giản vậy nhưng thực tế không dễ để nhà đầu tư trên thị trường Việt Nam có thể tiếp cận những con số được tính toán chính xác và đáng tin cậy về PE để tìm hiểu, nghiên cứu và quan trọng nhất là phục vụ hoạt động đầu tư.

P/E của một công ty – ở Việt Nam nên tính trượt hàng ngày

Thông thường các tổ chức cung cấp dữ liệu, kể cả Bloomberg hay Reuters, tính toán các chỉ số tài chính trượt theo quý (tức là dựa trên số liệu tài chính của 4 quý gần nhất), trong đó có chỉ số P/E.

Tuy nhiên điều này chỉ đúng khi mà biến động cơ cấu vốn là không nhiều và các hoạt động điều chỉnh như cổ phiếu thưởng, phát hành cho cổ đông hiện hữu, phát hành cho cán bộ công nhân viên, v.v. không tác động lớn.

Đọc tiếp »

          Trong quá trình theo dõi và tham gia thị trường, thỉnh thoảng người đầu tư nhận thấy Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK Tp. HCM) không lấy giá đóng cửa của một cổ phiếu nào đó trong phiên giao dịch trước đó làm giá tham chiếu cho cổ phiếu này trong ngày giao dịch tiếp theo như thường lệ. Đó là ở trường hợp ở những phiên giao dịch người đầu tư giao dịch không được nhận cổ tức bằng tiền, không được nhận thưởng bằng tiền, ngày giao dịch không được hưởng quyền mua cổ phiếu mới trong đợt phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn hay trong ngày giao dịch không được hưởng phần phát thưởng bằng cổ phiếu, ngày không được hưởng cổ tức bằng cổ phiếu hoặc tổ hợp nào đó của các yếu tố trên.

Điểm qua một số thông tin liên quan, chúng ta thấy việc phát hành thêm cổ phiếu để huy động thêm vốn phát triển sản xuất của Công ty cổ phần (CtyCP) giấy Hải phòng (Haphaco). Công ty này đã phát hành tăng vốn lên gấp đôi, từ hơn 10 tỷ lên hơn 20 tỷ để xây dựng một dây chuyền sản xuất giấy Craft. Và cứ mỗi cổ phiếu sở hữu nhận được một quyền mua một cổ phiếu trong đợt phát hành mới. Tại đây đã xuất hiện nhu cầu về định giá chứng khoán phái sinh là quyền mua cổ phiếu và làm cơ sở để định giá bán cổ phiếu cho người có quyền. Trong thời gian đó, giá cổ phiếu Haphaco đang ở mức cao trên 60-70 ngàn đồng/cổ phiếu và thị trường đang có xu hướng suy giảm. Công ty Haphaco đã xác định giá bán cho người có quyền là 50, sau đó là 40 và cuối cùng là 32 ngàn đồng/cổ phiếu trong đợt phát hành mới khi giá cổ phiếu này trên thị trường giảm xuống trên dưới 50 ngàn đồng. Và trên thực tế đã xuất hiện ngày giao dịch không hưởng quyền mua cổ phiếu này và TTGDCK Tp. HCM đã điều chỉnh giá tham chiếu.

          Ngoài ra, đối với những công ty niêm yết (CtyNY) khác, đã có một số công ty phát hành thêm cổ phiếu để thưởng hay cổ phiếu dùng để trả cổ tức như CtyCP Xuất nhập khẩu Bình Thạnh, CtyCP Giao nhận kho vận ngoại thương, CtyCP nước giải khát Sài gòn, CtyCP cáp và vật liệu viễn thông…Vì vậy, việc định giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không có thưởng, không hưởng cổ tức bằng cổ phiếu cũng đã được TTGDCK Tp. HCM tính toán và thông báo…

Đọc tiếp »

Đặt vấn đề
Chủ đề về cơ cấu vốn tối ưu là đề tài của nhiều nghiên cứu. Các nghiên cứu cho rằng, các doanh nghiệp hoạt động có lãi thường sử dụng ít nợ vay hơn các doanh nghiệp có lãi ít hơn.

Các nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao cũng có tỷ lệ nợ/Vốn chủ sở hữu cao. Chi phí phá sản (đại diện bởi quy mô của doanh nghiệp) cũng tác động đến cơ cấu vốn (Krause và Litzenberger, 1973; Harris và Ravis, 1991). Các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn cũng tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Cơ cấu vốn tối ưu là
cơ cấu vốn mà tại đó giá trị công ty là lớn nhất, hay nói cách khác là chi phí tài chính là nhỏ nhất và do vậy cũng làm tối đa hóa doanh thu của doanh nghiệp. Nếu cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thì cơ cấu vốn cũng sẽ tác động đến sức khỏe tài chính cũng như khả năng phá sản của doanh nghiệp. Từ góc độ của chủ nợ thì tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu giúp ích cho việc hiểu được chiến lược quản lý rủi ro của ngân hàng và bằng cách nào ngân hàng xác định được khả năng phá sản liên quan đến các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính. Tóm lại, chủ đề về cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu cũng như những người làm thực tế.
Khái niệm về hiệu quả hoạt động là một chủ đề gây tranh cãi trong tài chính bởi do ý nghĩa rộng lớn của nó. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996). Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức. Hiệu quả hoạt động tài chính như
tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu và thị phần, cho một định nghĩa rộng hơn về hiệu quả hoạt động.

Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường vốn. Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao thì đo lường hiệu quả hoạt động theo thị trường sẽ không cho kết quả tốt. Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là ROA và ROE hay lợi nhuận trên đầu tư ROI. Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng (Demsetz và Lahn, 1985; Gorton và Rosen, 1995; Mehran, 1995; Ang, Cole và Line, 2000).
Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, như là giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và chỉ số Tobin’s Q. Hiệu quả hoạt động đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Những kẻ âm mưu và những kẻ chuyên quyền mọi thời đại đều vô cùng thích lạm dụng những lời lẽ về ý chí quốc gia. Những kẻ âm mưu thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu mua được bởi một vài người có thế lực trong chính quyền. Những kẻ chuyên quyền thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu của thiểu số dân đi bỏ phiếu vì tham hoặc vì sợ. Cái ý chí đó còn thể hiện trong sự im lặng của người dân và cho rằng từ sự phục tùng trên thực tế nảy sinh cho họ cái quyền chỉ huy."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được "hóa giá" với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng "nghe rất là buồn".

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

"Rất là buồn", nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,035,499 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers