You are currently browsing the category archive for the ‘Chinh sach cong’ category.

NHÓM NGHIÊN CỨU HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN:

PGS.TS. Đào Hùng, TS.Nguyễn Thạc Hoát, TS. Nguyễn Trọng Nghĩa,

ThS. Nguyễn Thế Vinh, ThS. Nguyễn Việt Anh

Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012[1].

NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo[2] triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD).

Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.

I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012

Đọc tiếp »

Sở hữu chéo, đầu tư chéo có ở hầu hết các hệ thống tài chính trên thế giới với quy mô, mức độ phức tạp và biện pháp quản lý, kiểm soát khác nhau. Nói một cách đơn giản nhất thì sở hữu chéo là việc một số chủ thể sở hữu cổ phần, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở từ hai ngân hàng trở lên hoặc sở hữu cổ phần lẫn nhau. Đến nay, vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng thu hút sự quan tâm đáng kể bởi nhiều lý do: Thứ nhất, sở hữu chéo có thể gây cản trở đến năng lực cạnh tranh và vì vậy tác động không nhỏ đến sự phân bổ quyền sở hữu tài sản; Thứ hai, sở hữu chéo trong nhiều trường hợp có liên quan rất lớn đến những người sáng lập chính của ngân hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng hiệu quả.

Trong những năm 1990, hệ thống ngân hàng của Ý đã có những thay đổi sâu sắc cả về khuôn khổ pháp lý lẫn cơ cấu, tổ chức và đó là một trong những nhân tố góp phần gỡ bỏ đáng kể những rào cản về gia nhập thị trường, tự do mở chi nhánh ngân hàng, xác định lại cơ cấu sở hữu và diễn ra hàng loạt các hoạt động hợp nhất, sáp nhập. Trong giai đoạn này, các học giả đa phần tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của cuộc cải cách đến quá trình củng cố hệ thống ngân hàng mà ít chú ý đến sự hình thành hết sức phức tạp của sở hữu chéo gắn liền với các tập đoàn ngân hàng lớn của Ý.

1. Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý:

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Cần thiết phải giới thiệu qua một chút để thấy sức nặng của những nhận định từ chuyên gia. TS.Nguyễn Đức Thành, sinh năm 1977, kinh tế gia trẻ, một trong các tác giả Báo cáo Kinh tế Việt Nam thường niên, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong những trung tâm học thuật rất có uy tín và tầm ảnh hưởng đối với chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam thời gian gần đây.

ODA – Vấn đề chính là ở chúng ta!

Lại thêm một nghi án hối lộ 16 tỷ liên quan tới dự án ODA giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, cá nhân ông có cảm thấy bất ngờ trước thông tin này không, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Thành: Tôi không thấy bất ngờ vì từ lâu chúng ta vẫn biết các dự án ODA chứa đầy những lời đồn đại hoặc thông tin về sự thiếu minh bạch về tài chính cũng như hiệu quả sử dụng đồng vốn vay.

Điều đáng nói là thêm một lần nữa, thông tin về tham nhũng, nhận hối lộ của phía Việt Nam chỉ được phát giác từ phía nước ngoài. Điều ấy cho thấy chúng ta luôn hoàn toàn thụ động đối với sự tham nhũng trong chi tiêu ODA. Đây là một bằng chứng để người dân tiếp tục tin rằng có sự bao che lẫn nhau, vạn bất đắc dĩ bị lộ ra thì mới coi như có một sự việc như vậy.

Thực tế, những dự án từ nguồn vốn ODA của Nhật việc đấu thầu cũng chỉ chọn những nhà thầu Nhật Bản. Cùng với nhiều ý kiến nhận định giá công trình, dự án ODA từ nguồn Nhật Bản thường cao hơn gấp nhiều lần nước khác. Liệu điều này có lý giải cho thực trạng đưa – nhận hối lộ này, thưa ông?

Đọc tiếp »

Sẽ có gói 50.000 tỷ đồng dành cho bất động sản

Đây là gói tín dụng thương mại dưới hình thức liên kết giữa nhà đầu tư-nhà thầu-nhà cung ứng vật liệu xây dựng và ngân hàng nhằm phục vụ cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, chung cư xã hội hóa, nhà ở…

Trong buổi họp báo về phát triển thị trường ngành xây dựng chuyên nghiệp chiều 25/3, ông Phan Thành Mai, Tổng giám đốc Ngân hàng Xây dựng (VNCB) cho biết, thông qua hình thức liên kết chuỗi 4 nhà nói trên, một gói tín dụng mới để hỗ trợ thị trường bất động sản trị giá 50.000 tỷ đồng sẽ sớm được đưa vào thị trường.

Tham gia vào gói tín dụng này, ngoài VNCB sẽ có nhiều ngân hàng khác như ACB, Ngân hàng Quân đội, Sacombank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Argribank, Oceanbank, Lienvietpostbank… tham gia.

biet-thu-bo-hoang-hlan-jpg-136-8884-3953

Sự liên kết 4 nhà để cho ra gói tín dụng 50.000 tỷ đồng kỳ vọng sẽ giúp khơi thông thị trường bất động sản. Tổng giám đốc VNCB cho rằng, việc tìm giải pháp để rót 50.000 tỷ đồng vào thị trường nhằm khơi thông ách tắc về vốn trong bối cảnh hiện nay là điều quan trọng. Tốc độ giải ngân của gói tín dụng này sẽ phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng vẫn là tốc độ thẩm định của ngân hàng, vào dự án đang cần giải ngân.

Ông Mai cũng nhấn mạnh, gói 50.000 tỷ đồng này là gói tín dụng thương mại bình thường, khác hoàn toàn so với gói 30.000 tỷ đồng trước đó được áp dụng để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp vay ưu đãi mua nhà.

Tại buổi họp báo, Vụ trưởng vụ tín dụng Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Viết Mạnh chia sẻ thêm, thị trường đang mất niềm tin rất lớn mà nếu không tin nhau thì sẽ không thể giải quyết được tình hình hiện nay. "Do vậy, giờ là lúc phải gắn kết các nhà lại, dưới sự giám sát của ngân hàng. Dòng tiền khi đóng cho chủ đầu tư phải được quản lý để chi trả hợp lý cho vật liệu, nhân công và để trả nhà cho dân", ông Mạnh nói.

Cũng theo ông Mạnh, gói 50.000 tỷ đồng này được bơm ra dưới hình thức liên kết 4 nhà là chương trình thí điểm, nhưng ông tin rằng nó sẽ là một trong những giải pháp giúp khơi thông thị trường bất động sản.

Bình luận của Luattaichinh:

Đọc tiếp »

PGS, TS. ĐÀO VĂN HÙNG & TS. TRỊNH QUANG ANH

Năm 2013, hơn nửa chặng đường 2011-2015, đã khép lại. Niềm vui là “kinh tế vĩ mô đang dần ổn định” dường như bị lấn át bởi những lo lắng, trăn trở trong điều hành kinh tế vĩ mô sao cho đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế – xã hội đặt ra cho nửa chặng đường còn lại 2014-2015. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trở nên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Những khó khăn, thách thức đang đặt ra

Nhìn tổng thể kết quả 3 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của kế hoạch 2011-2013, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện khá tích cực và mục tiêu tổng quát năm 2013 là: “tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012” về cơ bản đã thực hiện được. Kết quả điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cũng như những thành quả bước đầu của tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế, đã có những đóng góp nhất định vào thành tựu chung này.

Tuy nhiên, về cơ bản, kinh tế nước ta vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức trong ngắn hạn và chưa thể trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh trong 1-2 năm tới. Những tồn tại, hạn chế trong trong công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô nói chung thời gian qua được xác định là một trong những nguyên nhân chính gây lên tình trạng trên.

Đọc tiếp »

NGÔ QUANG TRUNG

1. Tóm lược về FDI tại Việt Nam

Trải qua 25 năm hoạt động, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam là khó rõ nét và đã được khẳng định: hiện nay có 15.067 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 218,8 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 106 tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung quan trọng cho tổng vốn đầu tư xã hội. Các dự án FDI góp phần tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống cho người lao động.

Bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, FDI cũng đã và đang bộc lộ những vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng. Gần đây, đã xuất hiện hàng loạt sự việc tác động xấu đến sự phát triển của Việt Nam, gây bức xúc cho dư luận xã hội, trong đó nổi bật lên là chuyển giá, trốn thuế, tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đến môi trường đầu tư.

2. Một số hình thức chuyển giá cơ bản của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và các doanh nghiệp FDI trên thế giới.

Hiện tượng chuyển giá hầu như đều xảy ra đối với các công ty đa quốc gia. Tại Việt Nam, hiện tượng chuyển giá đã xuất hiện và ngày càng nhiều tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đọc tiếp »

BÙI ĐỨC NAM

Nhu cầu về tài chính cho giáo dục đại học đang ngày càng cao, tạo áp lực lên ngân sách nhà nước. Từ góc độ một cơ sở giáo dục đại học, bài viết đưa ra một số ý kiến xoay quanh vấn đề tài chính đại học đối với cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) công lập.

Đổi mới cơ chế, chính sách…

Hiện nay, các CSGDĐH ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau (từ các bộ); Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước và sinh viên nước ngoài; Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền…; Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng; Nguồn thu từ hiến tặng, tài trợ, quà biếu, đầu tư.

Cơ cấu của các nguồn trên thay đổi rất nhiều giữa các nước. Chẳng hạn, hầu hết các trường đại học ở nước đang phát triển, 90% nguồn thu của họ là từ phân bổ của Nhà nước cho giảng dạy. Học phí và lệ phí là không đáng kể. Ngay cả ở một vài nước phát triển, các trường đại học của họ nếu không có nhiều hoạt động nghiên cứu cũng sẽ dựa chủ yếu vào hai nguồn thu chính – hỗ trợ từ Nhà nước và học phí.

Ở Việt Nam, các CSGDĐH có 3 nguồn thu chính, gồm từ ngân sách nhà nước (NSNN) và học phí, nguồn còn lại không đáng kể. Thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học (GDĐH) đã đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Điều này thể hiện rõ qua Nghị quyết số 35/2009/ QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị định số 49/2009/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015… Những đổi mới này, đã tạo động lực quan trọng đối với các CSGDĐH công lập trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm.

Đọc tiếp »

TS. BÙI TIẾN DŨNG

Bộ Khoa học và Công nghệ

Nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung còn khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, mặc dù gần đây nhiều quy định đang được đổi mới song vẫn chưa hiển thị rõ nét. Bài viết đề cập một số đổi mới cơ chế tài chính hiện hành của các đơn vị sự nghiệp (KH&CN) công lập và đề xuất một số gợi ý nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay.

Cơ chế tài chính những năm gần đây

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ một số đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN nói chung và cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng. Không có cơ chế tài chính chỉ riêng cho các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.

Thứ nhất, Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 có nội dung “Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN”. Đây là nội dung thứ 3 trong 6 nhóm nội dung và giải pháp chủ yếu trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN. Những giải pháp chính trong đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN); Hoàn thiện cơ chế sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho KH&CN; Một số cơ chế được ban hành theo hướng đổi mới trong thời gian qua…

Để quản lý các dự án KH&CN, ngày 20/8/2004 Liên bộ Bộ Tài chính, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN, hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án KH&CN được NSNN hỗ trợ và có thu hồi kinh phí. Thông tư 85/2004/TTLT/BTC-BKHCN quy định NSNN hỗ trợ tối đa 30% tổng mức kinh phí đầu tư mới cần thiết để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học từ nước ngoài; Đồng thời, tối đa không quá 24 tháng sau khi dự án kết thúc, các dự án phải nộp trả NSNN số kinh phí thu hồi từ 60 – 100% mức kinh phí NSNN đã hỗ trợ thực hiện các dự án; Kinh phí thu hồi chủ yếu từ nguồn thu bán các sản phẩm là kết quả thực hiện của dự án. Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại Thông tư nói trên đã bộc lộ một số điểm bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Đọc tiếp »

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

(TBKTSG) – Nhìn từ thực trạng vi phạm các quy định trong lĩnh vực ngân hàng để thấy dẫu có cả một “rừng luật” thì cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu xã hội không có tinh thần thượng tôn pháp luật.

Sao có thể làm ngơ?

Điều 55 của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) 2010 quy định một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD, đồng thời cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó cũng không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD. Thế nhưng, trên thực tế có một số cổ đông là cá nhân, và trong nhiều trường hợp khác khi tính cả những người có liên quan đến cá nhân đó, đã và đang nắm giữ số cổ phần vượt quá tỷ lệ sở hữu quy định này. Điều chúng ta thắc mắc là tại sao luật pháp đã quy định khá rõ ràng rồi nhưng không thấy ai bị xử lý gì cả, kể cả một ý kiến chính thức từ cơ quan chức năng, trực tiếp ở đây là Ngân hàng Nhà nước (NHNN), về vấn đề này cũng chưa có.
Có người cho rằng, dù biết sai phạm(?!) nhưng do luật pháp của Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết nên không thể xử lý được mà cần phải chờ để hoàn thiện các khiếm khuyết đó. Rõ ràng tâm lý chờ đợi có một hệ thống luật pháp hoàn bị rồi mới hành động là không thể chấp nhận được vì nó sẽ làm cho các quy định của luật pháp trở nên vô nghĩa. Việc viện lý do luật pháp có nhiều lỗ hổng hoặc không đủ chỉ là sự biện minh cho hành vi cố tình né tránh trách nhiệm hoặc làm ngơ trước một trở lực nào đó mà người có trách nhiệm thực thi luật pháp không dám đối mặt.

Vì sao cần phải thượng tôn pháp luật?

Đọc tiếp »

NGÔ TRUNG DŨNG

PHÓ TỔNG THƯ KÝ HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM

Vài nét về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN) được thành lập từ năm 1967, hiện tại bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Hiệp hội ASEAN dựa trên 03 trụ cột chính: an ninh chính trị; kinh tế; văn hóa xã hội. Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997/1998, cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các nước ASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn kết hơn. Hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vực phát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vực vào năm 2020. Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết đinh đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community- AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vào cuối năm 2015. Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõ ràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mục đích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày 31/12/2015. Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại.

Đọc tiếp »

Thời gian qua có nhiều thông tin đề cập đến Bitcoin. Qua tìm hiểu bước đầu, Bitcoin là một dạng tiền kỹ thuật số (tiền ảo), không được phát hành bởi chính phủ hay một tổ chức tài chính, mà được tạo ra và vận hành dựa trên hệ thống các mbitc500-1843-1393511947.jpgáy tính kết nối mạng internet ngang hàng.

Bitcoin bắt đầu được giao dịch trên sàn Mt.Gox vào tháng 6/2010, đến năm 2013, Bitcoin được sử dụng trên cả phương diện thanh toán, giao dịch hàng hóa và tài sản đầu tư. Sự xuất hiện của Bitcoin đã gây ra nhiều tác hại, rủi ro cho người sử dụng như:

Đọc tiếp »

Tuy mức độ khác nhau song đề nghị tăng tự chủ cho địa phương trong thu chi ngân sách là điểm chung ở tham luận của nhiều thành phố lớn tại hội thảo về phân cấp ngân sách và cơ chế tài chính đặc thù của một số địa phương diễn ra trong hai ngày 18 và 19/2 tại Tp.HCM, do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tổ chức.

Được chắp bút bởi TS. Lê Văn Hoạt, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, bản tham luận đến từ Thủ đô mang đến khá nhiều thông tin đáng chú ý.
Theo đó, liên tiếp hai năm 2012 – 2013, Hà Nội thu ngân sách nhà nước chỉ đạt bằng dự toán giao (năm 2013 thu 163.000 tỷ đồng, bằng 100,9% dự toán), cân đối ngân sách địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư của Thủ đô.
Giống như nhiều địa phương khác, thu ngân sách của Hà Nội còn chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào các khoản thu từ đất với bình quân 11.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 22%-25% thu ngân sách địa phương.
Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách được ông Hoạt đánh giá là chưa có bước đột phá. Điều này thể hiện rất rõ qua tổng vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng chậm dần khi 2013 chỉ đạt 260,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12%, thấp hơn kế hoạch là 15-16,5% và cùng kỳ năm 2012 là 13,21%.
Không là ngoại lệ, số lượng doanh nghiệp bị phá sản, giải thể hoặc tạm ngừng kinh doanh ở Thủ đô cũng tăng đột biến trong 2 năm gần đây với khoảng 22.600 doanh nghiệp, chiếm 14% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Tình hình nợ công diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, bản tham luận nêu lo lắng của tác giả.

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Tên bài gốc là "Một bộ máy ‘ngốn’ 77 sân vận động Mỹ Đình?" đăng trên Tuanvietnam.net, ngày 20/2/2014

——————————————

Con số giật mình

Theo số liệu của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền cung cấp cho báo chí, Quỹ xóa đói giảm nghèo của VN trong giai đoạn 2011-2013 đạt mức 120 nghìn tỷ đồng/năm (khoảng 5,5 tỷ USD) [1].

xóa đói giảm nghèo, lãng phí, sân vận động Mỹ Đình, nợ công

Việt Nam hiện nay có từ khoảng 500 nghìn đến 3 triệu hộ nghèo theo nhiều nguồn khác nhau. Đa số các hộ nghèo tập trung ở khu vực nông thôn, nơi thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 4,2 triệu đồng/người/năm.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính với đoàn giám sát thì  từ 2005 đến 2012 hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách giảm nghèo khoảng 734.000 tỷ đồng (bình quân khoảng trên 90.000 tỷ đồng/năm) chiếm trên 12% tổng chi ngân sách nhà nước.

Con số này được Thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp giải thích là chưa tính đến nguồn vốn tín dụng mỗi năm 20 nghìn tỷ đồng cho vay ưu đãi và Nhà nước hỗ trợ lãi suất khoảng 7 – 8 nghìn tỷ đồng nữa.

Thử làm một phép tính nhỏ, nếu lấy 120 nghìn tỷ đồng/năm chia cho tổng số 500 nghìn hộ nghèo ở Việt Nam, sẽ ra kinh phí hàng năm để giúp một hộ thoát nghèo là 240 triệu đồng, tức 20 triệu đồng/hộ/tháng.

Nếu chia bình quân cho một hộ cơ bản bốn thành viên, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo nhận hỗ trợ sẽ là 5 triệu đồng/người/tháng. Tức là gấp 10 lần chuẩn nghèo ở thành thị (500 nghìn đồng/người/tháng) và lớn hơn của thu nhập bình quân đầu người của nông dân.

Kết quả sẽ thay đổi nếu chúng ta chia cho 3 triệu hộ nghèo theo thông tin từ một nguồn khác. Nhưng con số 240 triệu đồng như trên có vẻ phù hợp với thông tin do Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Đỗ Mạnh Hùng cung cấp cho báo Đại đoàn kết ngày 29/9/2013 là 180 triệu đồng/hộ/năm, chia từ nguồn quỹ 90 nghìn tỷ đồng/năm trước 2011.

Tiền thực sự đã đi đâu?

Đọc tiếp »

TS. NGUYỄN THÀNH ĐÔ

Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)

Các nguồn vốn vay trong và ngoài nước là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó, đối với Việt Nam, việc quản lý nợ trong trung và dài hạn một cách hiệu quả là hết sức quan trọng.

Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công của Việt Nam là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 55,7% GDP năm 2012.
Cụ thể, tổng số nợ Chính phủ là 1.279.994 tỷ đồng, bằng 43,3% GDP; trong đó nợ nước ngoài 726.314 tỷ đồng (chiếm khoảng 57%), nợ trong nước 553.680 tỷ đồng (chiếm khoảng 43%). Đối với vay về cho vay lại, tính đến ngày 31/12/2012, tổng dư nợ các khoản cho vay lại là 10,84 tỷ USD, tương đương 225,85 nghìn tỷ đồng (quy đổi theo tỷ giá hạch toán ngân sách tháng 12/2012). Nợ được Chính phủ bảo lãnh tính đến ngày 31/12/2012 là 342.036 tỷ đồng, trong đó nợ bảo lãnh vay nước ngoài là 150.586 tỷ đồng (chiếm 44%), nợ bảo lãnh vay trong nước là 191.450 tỷ đồng (chiếm 56%).

Trong đó, bảo lãnh vay nước ngoài tính đến ngày 31/12/2012, đã có 96 dự án vay nước ngoài được cấp bảo lãnh Chính phủ thuộc các lĩnh vực điện (47 dự án), hàng không (6 dự án), xi măng (17 dự án), dầu khí (7 dự án), giấy và bột giấy (5 dự án) và các lĩnh vực khác với giá 12,97 tỷ USD, các dự án đã giải ngân là 9,88 tỷ USD và số dư nợ gốc là 7,24 tỷ USD (tương đương 150.586 tỷ đồng); Bảo lãnh vay trong nước tập trung vào 2 ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam), Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và một số dự án trọng điểm quốc gia.

Đọc tiếp »

NGUYỄN VẠN PHÚ

Gia đình ông B nghèo hơn chỉ tiết kiệm được 20 triệu đồng, cũng dự trù sang năm dùng để cho con đi học đại học tư trong nước. Cả hai gửi tiền vào ngân hàng vì năm đó lãi suất đang rất cao, chừng 20%/năm. Năm sau, tiền ông A lên thành 2,4 tỉ đồng, tiền ông B lên thành 24 triệu đồng.

Cả năm đó tỉ giá hầu như không thay đổi nên ông A đổi được thành 100.000 đôla cho con đi du học mà vẫn dư ra một khoản lớn. Trường con ông B vì học phí tính bằng tiền đồng nên đã điều chỉnh theo lạm phát, học phí thay vì 20 triệu đồng nay đã tăng lên thành 30 triệu đồng, ông B méo mặt vì hụt một khoản không nhỏ.

Câu chuyện trên chỉ là giả định với những con số cố ý làm tròn cho dễ hình dung. Trong bối cảnh con số thống kê ở Việt Nam bị chê là thiếu tin cậy, tốt nhất là dùng cách “tính rợ” của dân gian. Tính nhẩm kiểu như trên cũng cho ta thấy: khi lạm phát cao mà tỉ giá không điều chỉnh theo tương ứng thì tỉ giá đó có lợi cho những ai có liên quan đến ngoại tệ và có hại cho những ai chỉ biết dùng tiền đồng.

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Những kẻ âm mưu và những kẻ chuyên quyền mọi thời đại đều vô cùng thích lạm dụng những lời lẽ về ý chí quốc gia. Những kẻ âm mưu thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu mua được bởi một vài người có thế lực trong chính quyền. Những kẻ chuyên quyền thấy cái ý chí đó trong các lá phiếu của thiểu số dân đi bỏ phiếu vì tham hoặc vì sợ. Cái ý chí đó còn thể hiện trong sự im lặng của người dân và cho rằng từ sự phục tùng trên thực tế nảy sinh cho họ cái quyền chỉ huy."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 2-2014

Câu chuyện nhà ở công vụ không được trả lại, hoặc được "hóa giá" với giá rẻ mạt so với thị trường được nhiều người dân và phương tiện truyền thông thời gian gần đây quan tâm, khi bàn đến việc sửa đổi Luật Nhà ở.

Thậm chí, ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ cũng cho rằng "nghe rất là buồn".

Nhà ở công vụ, nhiều quốc gia có, và nó là tài sản của nhà nước. Nơi ở của Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Anh là những địa chỉ nổi tiếng. Mục đích của nhà ở công vụ khá đa dạng: hoặc để đảm bảo an toàn cho các yếu nhân, hoặc để những người đương chức toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm đáp ứng nguyện vọng của cử tri mà không vướng bận đến lo toan vụn vặt về nơi ăn, chốn ở, hoặc được coi là sự hỗ trợ cho cán bộ, công chức để họ đủ điều kiện mà làm việc bình thường. Cho dù với lý do gì, thì đều có chung một điều kiện tiên quyết: Người được sử dụng nhà ở công vụ phải đang thực thi công vụ.

Nếu không còn công vụ, đương nhiên, sẽ hết điều kiện ở nhà công vụ. Nhà công vụ nên dành cho người tiếp theo đang thực thi công vụ chứ không phải là chuyển quyền sở hữu cho người hết công vụ. Không có lý do nào để giải thích cho đặc quyền này, vì đặc quyền của công chức không phải là lý do chân chính trong cách hiểu của cử tri ở một thể chế dân chủ.

"Rất là buồn", nếu có, phải là lời cảm thán của cử tri, chứ không nên là của cơ quan hành pháp với đầy đủ công cụ để thực thi pháp luật một cách liêm chính và minh bạch.

Hy vọng với những bước đi ban đầu của Chính phủ trong việc từng bước thu hồi nhà ở công vụ sẽ dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới đây.

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Tư 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 3    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,037,339 lượt
Tổng số bài: 565

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 112 other followers