You are currently browsing the category archive for the ‘Chinh sach cong’ category.

TS. VŨ BẰNG

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc tái cấu trúc hệ thống tài chính, với quy mô và mức độ khác nhau. Đối với Việt Nam, công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán và tái cấu trúc nền kinh tế.

1. Thực trạng các tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Các công ty chứng khoán

Trong thời gian qua, các công ty chứng khoán (CTCK) đã phát huy vai trò là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), giúp cho việc dẫn vốn và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán liên tục tăng trưởng qua các năm. Năm 2009 có trên 800.000 tài khoản, năm 2010 có trên 1 triệu tài khoản và năm 2013 có trên 1,3 triệu tài khoản.

Tại các CTCK, hệ thống công nghệ thông tin, mạng lưới cung cấp dịch vụ, đội ngũ người hành nghề không ngừng được tăng cường. Một số CTCK lớn đã chú trọng phát triển hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ để hoạt động của công ty ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các CTCK cũng để lại một số vấn đề đáng chú ý. Số lượng các tổ chức tăng nhanh nhưng không bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sự hình thành nhanh các CTCK dẫn đến việc cạnh tranh hết sức gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh về thị phần môi giới (hơn 70% thị phần giao dịch tập trung vào 23 CTCK và chỉ có chưa đến 30% thị phần giao dịch do 80 CTCK còn lại nắm giữ). Để tăng khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, một số CTCK thiếu sự chú trọng công tác quản trị rủi ro trong khi cung cấp các dịch vụ nhiều rủi ro. Khi thị trường đi xuống, nhiều CTCK đã bị thua lỗ và cũng có những CTCK đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy năng lực của các CTCK còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, nhân sự, cơ sở vật chất, đặc biệt tiềm lực tài chính chưa lớn.

Hệ thống công ty quản lý quỹ

Mặc dù ra đời trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành quản lý quỹ vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nhiều công ty quản lý quỹ (CTQLQ) tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn, từng bước định hình một ngành kinh doanh chứng khoán bậc cao và đội ngũ nhân sự có năng lực cần thiết cho việc phát triển hệ thống an sinh xã hội sau này.

Các CTQLQ đã từng bước khẳng định là những nhà đầu tư tổ chức lớn, tạo sức cầu cần thiết cho các chương trình cổ phần hóa, hỗ trợ sự phát triển của TTCK, thị trường trái phiếu. Một số công ty quản lý quỹ đã chủ động, tích cực huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, từng bước tạo ra một kênh dẫn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài an toàn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, các CTQLQ đã phát huy vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp cho các tổ chức có nhiều vốn khả dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm và các ngân hàng. Điều này đã góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, CTCK đã và đang chuyển dần các hoạt động đầu tư tài chính sang các CTQLQ, để có nhiều nguồn lực tập trung và ngành nghề kinh doanh chính. Đây là xu hướng phù hợp với điều kiện của các tổ chức tài chính, ngân hàng Việt Nam, khi mà các tổ chức này còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro thấp, đạo đức nghề nghiệp chưa có, tiềm ẩn nhiều xung đột lợi ích.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những mặt tồn tại là nhiều CTQLQ hoạt động không hiệu quả, thua lỗ nhiều. Có tới 2/3 số công ty đang hoạt động không thể huy động được quỹ. Phần còn lại chỉ quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn ủy thác từ khối các ngân hàng, bảo hiểm. Các CTQLQ không phải là các định chế chuyên nghiệp về hoạt động tín dụng, không có hệ thống thẩm định tín dụng, vì vậy việc dùng nguồn vốn ủy thác từ các ngân hàng và cho vay lại càng rủi ro.

Năng lực hoạt động của các CTQLQ cũng còn hạn chế. Các công ty chưa chứng tỏ được năng lực trong hoạt động quản lý tài sản, kết quả hoạt động đầu tư cho khách hàng thấp. Có những công ty không tuân thủ quy định của pháp luật, không tách biệt tài sản của khách hàng, chưa tạo được lòng tin cho khách hàng. Đội ngũ nhân sự có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn về quản lý tài sản chưa nhiều. Phần mềm, công nghệ tiên tiến chỉ được thực hiện tại một số các công ty có vốn nước ngoài và đang quản lý các quỹ đầu tư đại chúng. Phần còn lại đa số các công ty áp dụng các phần mềm không chuyên biệt, thao tác thủ công, chỉ phù hợp với hoạt động ở mức độ thấp như hiện tại.

Hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ là không đồng đều, khi có tới 65% các CTQLQ có vốn góp của các ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm có lãi lũy kế kể từ khi thành lập. Trong số các công ty còn lại, chỉ có 28% công ty là có khả năng tạo lợi nhuận.

2. Mục tiêu, nguyên tắc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Đọc tiếp »

Luật Tài chính: Nghị quyết này, về mặt thực tế không có gì đáng bàn, vì nó cần để xử lý những vấn đề trước mắt.

Nhưng về mặt lý luận pháp luật cũng như tài chính công, có một số vấn đề cần xem xét:

1. Nghị quyết của Quốc hội có cần căn cứ vào Luật Ngân sách Nhà nước không? Về hiệu lực, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực rất cao, trong khi nội dung chính của nghị quyết (Điều 1) lại không hoàn toàn phù hợp với Điều 59 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002.

2. Lần đầu tiên có khái niệm "nguồn tăng bội chi", và liệu nguồn tăng bội chi này có được hiểu là nguồn tăng thu hay không, trong khi vay nợ lại không phải là nguồn thu của ngân sách trung ương theo Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước?

3. Lấy nguồn tăng bội chi để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương là việc chưa có tiền lệ. Tại sao không giảm chi tương ứng với số thu chưa đạt theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước? Nếu vẫn giảm chi tương ứng với số hụt thu thì việc bù đắp này có ý nghĩa gì ngoài câu chuyện của các con số?

4. Và cuối cùng, nếu do tăng trần bội chi mà dẫn đến việc vay được nhiều tiền hơn, tại sao không quyết định trả lại tiền vay hoặc không tiếp tục vay (nhiều trường hợp hoàn toàn có thể) mà lại vẫn phải sử dụng cho bằng hết số tiền vay khi không thực sự cần?

Sau đây là toàn văn Nghị quyết:

Đọc tiếp »

TS. LÊ THỊ THÙY VÂN

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính

Mô hình quản lý và giám sát hệ thống tài chính trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể qua nhiều thập niên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những rủi ro mới phát sinh đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các chuẩn mực, phương thức giám sát hệ thống tài chính theo hướng tăng cường giám sát thận trọng vĩ mô, nâng cao năng lực thể chế của hệ thống giám sát nhằm đảm bảo tính ổn định và sức chịu đựng của hệ thống trước các cú sốc.

Xu hướng lựa chọn và điều chỉnh mô hình giám sát

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làm bộc lộ những yếu kém trong hệ thống giám sát tài chính thế giới, khi mô hình quản lý và giám sát tài chính không theo kịp sự phát

Xu hướng cải cách hệ thống giám sát tài chính trên thế giới

triển và đổi mới của hệ thống tài chính. Do vậy, sau khủng hoảng tài chính này, các nền kinh tế lớn đã tích cực cải cách hệ thống giám sát tài chính nhằm tăng cường hiệu quả giám sát, kịp thời phát hiện rủi ro và ngăn ngừa việc tái diễn khủng hoảng trong tương lai.

Giám sát tài chính hợp nhất là mô hình được nhiều nước hướng đến nhiều hơn trong số 4 mô hình giám sát (giám sát theo định chế, giám sát theo chức năng, giám sát hợp nhất, giám sát lưỡng đỉnh), với tỷ lệ các nước lựa chọn mô hình này tăng từ 20% vào năm 1996 lên 31% (năm 2011). Số nước lựa chọn mô hình cũng tăng từ 13 nước (năm 1996) lên 36 nước vào năm 2006, 42 nước (năm 2009) và lên 55 nước (năm 2012). Trong đó, các nước tiêu biểu cho lựa chọn mô hình này là: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Na Uy, Anh (từ năm 1997 đến tháng 3/2013), Ba Lan (từ năm 1997), Hàn Quốc (từ năm 1999), Hungary (từ năm 2000).

Các nguyên nhân cơ bản lý giải cho xu hướng này là: (i) Kịp thời phản ánh sự phát triển của hệ thống tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính; (ii) Nâng cao hiệu quả giám sát trong bối cảnh các tập đoàn tài chính được thành lập ngày càng nhiều; (iii) Mô hình giám sát phân tán không thể ứng phó kịp thời và hiệu quả trước những tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài đến khu vực tài chính trong nước.

Đọc tiếp »

TRẦN ĐÌNH THIÊN & PHÍ MẠNH HỒNG1

Cơ chế thị trường là một cơ chế kinh tế hiện thực, đã được xác lập một cách vững chắc trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới. Cho đến nay, dù không phải là một cơ chế hoàn hảo, song nó vẫn chứng tỏ được rằng đó là một cơ chế phân bổ nguồn lực, một cơ chế phát triển tốt nhất hiện nay. Một quốc gia dựa trên nền tảng thị trường để phát triển kinh tế có thể không chắc chắn thành công, song một quốc gia không dựa trên thị trường chắc chắn sẽ thất bại trong dài hạn. Môt cách triệt để, đối với sự phát triển hiện đại, phát triển đồng nghĩa với việc xây dựng, phát triển, hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại. Kết cục của sự lựa chọn giữa kinh tế thị trường hay kinh tế phi thị trường, về mặt thực tiễn là rõ ràng, với ưu thế rõ rệt, không cần phải tranh cãi của mô hình của kinh tế thị trường. Các kiểu mẫu phát triển khác nhau, sự thành công hay thất bại khác nhau, gắn liền với việc xử lý đúng đắn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể về mối quan hệ giữa thị trường và nhà nước với tư cách là 2 phương thức phân bổ nguồn lực khác nhau, có thể bổ sung cho nhau, song cũng có thể triệt tiêu tính hiệu quả của nhau.Thực tiễn trước và sau Đổi mới ở Việt Nam chứng minh rằng: phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (một thuộc tính phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá của nền kinh tế thị trường hiện đại) là lựa chọn không thể tránh né của Việt Nam.

Nền tảng của nền kinh tế thị trường là dựa trên sự xác lập và thực thi phổ biến quyền sở hữu tư nhân về các tài sản (dùng cách diễn đạt "các tài sản" thay cho "các tư liệu sản xuất chủ yếu" như là đối tượng của sở hữu chính xác hơn. Tài sản bao gồm cả tài sản vô hình như tri thức, vốn là thứ đang nổi lên như một nguồn lực hàng đầu quyết định năng lực sáng tạo của cải trong nền kinh tế tri thức). Luận điểm này được thừa nhận phổ biến và được thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới chứng minh. Nó cũng từng được C.Mac nêu lên như một trong hai điều kiện cần thiết của sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá. Quyền sở hữu tư nhân được thực thi hàm nghĩa rằng người sở hữu tài sản có quyền khai thác, sử dụng tài sản của mình, được thụ hưởng các kết quả mà mình tạo ra từ tài sản đó. Thừa nhận quyền sở hữu tư nhân có nghĩa là mọi người chỉ có thể có được hàng hoá, tài sản từ người khác phải thông qua trao đổi mua bán, chứ không phải thông qua sự chiếm đoạt. Sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường đối nghịch với các quan hệ kinh tế dựa trên sự lệ thuộc cá nhân của các xã hội tiền tư bản. Nó là hình thái sở hữu tư nhân đích thực, trọn vẹn. Sức sống lâu bền của hệ thống kinh tế thị trường nằm ở chỗ: nó phù hợp với giai đoạn lịch sử mà con người về căn bản còn là những người tư lợi. Họ sản xuất, trao đổi trước hết vì lợi ích cá nhân của mình. Dựa trên nền tảng quyền tư hữu được tôn trọng và bảo vệ, hệ thống này cho phép các cá nhân phát huy được các tiềm năng của mình trong các hoạt động sản xuất trao đổi nhằm tối đa hoá các lợi ích cá nhân. Như A.Smit đã chỉ ra, thông qua cơ chế cạnh tranh và sự lên xuống của giá cả, bàn tay vô hình của thị trường hoá ra lại là "cơ chế tuyệt diệu có thể chuyển hoá các nỗ lực theo đuổi lợi ích riêng của các cá nhân thành các lợi ích của toàn xã hội"2. Tôn trọng và phát huy sức mạnh của lợi ích cá nhân (hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ là lợi ích vật chất, tiền bạc mà còn bao hàm cả những lợi ích tinh thần mà cá nhân theo đuổi) trên cơ sở xác lập và bảo vệ quyền tư hữu, coi đó là động lực sâu sa chi phối hành vi kinh tế con người – tất cả nhứng điều đó làm nên sức sống năng động và sự thịnh vượng của các nền kinh tế thị trường. "Hệ thống thị trường đã chứng kiến nhiều thay đổi trong hai năm qua, nhưng chế độ tư hữu vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm. Khi sản xuất và trao đổi ngày càng phức tạp với mức độ chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càng cao, quyền tư hữu càng được củng cố chứ không yếu đi trong các nền kinh tế thị trường, và việc thực thi quyền tư hữu ngày càng được mở rộng ở mức độ tinh vi hơn"3.

Đọc tiếp »

PGS, TS. PHẠM DUY NGHĨA

Người ta có thể tranh luận bất tận về các lý thuyết tổ chức quyền lực nhà nước, song sau khi bản Hiến pháp 2013 đã được Quốc hội nước ta thông qua, có lẽ đã tới lúc cần trở về với thực tiễn hành động. Trong khuôn khổ của bản Hiến pháp mới, chính quyền các cấp có thể đổi thay đáng kể được hay không, và nếu có cần cải cách theo những định hướng nào để chính quyền phục vụ người dân và doanh nghiệp được tốt hơn. Bài viết dưới đây xem xét cơ quan quản lý nhà nước như một tổ chức cung ứng dịch vụ công và thảo luận các khả năng tham khảo kinh nghiệm của khu vực tư nhân để cải thiện cách tổ chức và hoạt động của chính quyền.

Nhận diện rõ khách hàng để cung ứng dịch vụ công tốt hơn

Tựa như doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước cũng cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Từ trị an, hộ tịch, kinh doanh, cấp phép xây dựng, cho tới đăng ký tài sản, quản lý thị trường, bảm đảm an toàn thực phẩm… phần lớn dịch vụ công thiết yếu được cung cấp cho người dân bởi chính quyền cấp cơ sở (xã, phường, quận, huyện). Rất hiếm khi người dân mới cần tới dịch vụ công của chính quyền cấp tỉnh thành. Khách hàng của nền hành chính cấp tỉnh chủ yếu là doanh nghiệp. Chính quyền trung ương, nếu có duy trì một số dịch vụ công được tổ chức theo ngành dọc như thuế, hải quan, cũng tổ chức hệ thống từ tổng cục tới chi cục như các đại lý bố trí đều khắp ở các khu vực và địa phương.

Như vậy, như một sự phân chia thị trường, thực tiễn phân cấp quản lý nhà nước từ cổ xưa đã phân tách một cách khá tự nhiên đối tượng phục vụ của cơ quan quản lý nhà nước từ cấp phường xã tới cấp tỉnh. Việc phân cấp quản lý ấy tuân theo những nguyên tắc phổ quát đúc rút từ lý thuyết tổ chức của khu vực kinh tế tư nhân, theo đó một dịch vụ cần được quyết định và thực hiện bởi nơi có thông tin đầy đủ nhất, có thể tiến hành dịch vụ với chi phí giao dịch hợp lý nhất. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử, thanh tra xây dựng, đo đạc và lập bản đồ địa chính… không cấp nào phù hơn là cấp phường xã. Việc quản lý mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, cấp phù hợp sẽ là chính quyền cấp huyện. Cứ như thế, nếu xác định rõ đối tượng phục vụ (hay phân khúc thị trường), chính quyền từng cấp cần quản trị nguồn lực của mình một cách tương ứng để phục vụ tốt nhất khách hàng.

Đọc tiếp »

HẢI AN

(Tài chính) Phòng chống "rửa tiền" là vấn đề làm đau đầu các nhà chức trách các nước. Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới.

    Vòng quay “rửa tiền” trên thế giới

Mỗi năm bọn tội phạm tiến hành “rửa” từ 1.000-1.500 tỷ USD trên toàn thế giới. Nguồn: Internet

“Rửa tiền" và các tác hại

Thuật ngữ "rửa tiền" lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ là vào năm 1973 trong vụ bê bối tài chính Watergate nổi tiếng nước Mỹ. Năm năm sau đó thuật ngữ "rửa tiền" chính thức được sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án Mỹ. Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần đây bởi tính phổ biến và ảnh hưởng của chúng. Tổ chức chống "rửa tiền" quốc tế (Finance Action Task Force) đã định nghĩa hoạt động của "rửa tiền" là:

• Việc giúp đỡ đối tượng phạm pháp lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật;

• Việc cố ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền sở hữu tài sản phạm pháp;

• Việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp.

Như vậy, hiểu một cách khái quát thì "rửa tiền" là toàn bộ các hoạt động được tiến hành một cách cố ý nhằm hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm.

Việc "rửa tiền" thành công sẽ giúp cho các hoạt động phạm tội có thể sinh lợi, để những kẻ tội phạm có thể "hưởng thụ" các thành quả thu được từ các hoạt động tội phạm. Vì vậy, chừng nào một nước còn được coi là nơi ẩn náu an toàn cho hoạt động "rửa tiền" thì khi đó còn có nhiều khả năng nước đó có sức lôi cuốn tội phạm và thúc đẩy tham nhũng.

Tai tiếng về một nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố cũng đã có thể gây ra những hậu quả bất lợi đáng kể cho sự phát triển của một đất nước. Các tổ chức tài chính nước ngoài có thể quyết định hạn chế các giao dịch của mình với những tổ chức là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền"; buộc những giao dịch như vậy phải qua sự kiểm soát gắt gao hơn, khiến cho chúng thêm tốn kém hoặc chấm dứt hoàn toàn các mối quan hệ giao dịch hay vay mượn. Ngay cả các doanh nghiệp hợp pháp lẫn những doanh nghiệp là nơi ẩn náu an toàn cho "rửa tiền" cũng có thể bị giảm khả năng tiếp cận các thị trường thế giới hoặc phải tiếp cận với chi phí cao hơn do phải chịu sự kiểm soát gắt gao hơn về quyền sở hữu, các hệ thống tổ chức và kiểm soát.

Ở các nước đang phát triển, lĩnh vực tài chính mới được tư nhân hóa và chính phủ vẫn trong quá trình xây dựng luật lệ quản lý nên họ dễ trở thành mục tiêu và phải gánh chịu tác động nặng nề của hoạt động rửa tiền thời toàn cầu hóa.

"Rửa tiền" và tài trợ cho khủng bố có thể gây nguy hại theo nhiều cách cho sự lành mạnh của khu vực tài chính của một đất nước cũng như cho sự ổn định của từng tổ chức tài chính. Những hậu quả tai hại đó được coi là rủi ro đối với uy tín, nghiệp vụ, pháp lý và rủi ro tập trung đều có mối quan hệ qua lại với nhau. Mỗi rủi ro đều gây ra những chi phí cụ thể: Mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi; Những vấn đề về tính thanh khoản do việc rút tiền gây ra; Giảm giá trị cổ phiếu của các tổ chức tài chính…

Bên cạnh đó, những kẻ "rửa tiền" khét tiếng là những kẻ biết sử dụng “các công ty bình phong”- là những doanh nghiệp có vẻ bề ngoài hợp pháp và tham gia vào hoạt động kinh doanh hợp pháp nhưng trên thực tế lại do bọn tội phạm kiểm soát.

Những công ty bình phong này hòa trộn các quỹ phi pháp với các quỹ hợp pháp để che giấu những khoản tiền bất chính. Khả năng tiếp cận của các công ty bình phong tới những quỹ phi pháp cho phép chúng bao cấp các sản phẩm và dịch vụ của công ty, thậm chí với giá thấp hơn giá thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp hợp pháp sẽ khó cạnh tranh với những công ty bình phong khi mục tiêu duy nhất của chúng là bảo toàn và bảo vệ những khoản tiền bất hợp pháp chứ không phải để tạo một ra bất cứ khoản lợi nhuận nào.

Điều này cũng làm tăng sự bất ổn định tiềm tàng về khía cạnh tiền tệ và kinh tế do sự phân bổ sai lệch các nguồn lực bắt nguồn từ tình trạng méo mó giả tạo của giá tài sản và hàng hóa. Nó cũng tạo ra một cơ chế cho trốn thuế, từ đó làm cạn kiệt nguồn thu của đất nước.

Hậu quả kinh tế của các hành vi “rửa tiền” có thể nghiêm trọng hơn. Trong những năm 90 của thế kỷ trước nhiều ngân hàng ở các nước vùng Baltic đã sụp đổ vì khách hàng lo lắng đến rút hết tiền do nghe tin đồn lan rộng về những khoản tiền bẩn rất lớn gửi vào ngân hàng.

Vòng quay "rửa tiền"

Đọc tiếp »

Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Bảo Hiểm

Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau:

  • Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
  • Bảo hiểm phi nhân thọ;
  • Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
  • Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường).

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có thể thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo những hình thức nào?

Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:

  1. Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
  2. Liên doanh với đối tác Việt Nam;
  3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
  4. Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ).

Hộp 1 – Hạn chế về loại dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được phép cung cấp
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;
- Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;
- Bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường.
Cũng theo cam kết thì tất cả các hạn chế này phải được bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.

Tỷ lệ góp vốn tối đa dưới hình thức mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là bao nhiêu?

Đọc tiếp »

TS. TÔ ÁNH DƯƠNG

Viện Kinh tế Việt Nam

1. Kinh nghiệm quản lý thị trường vàng của Trung Quốc

Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh vàng được thống nhất quản lý bởi đầu mối duy nhất là Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (People’s Bank of China – PBOC – Ngân hàng Trung ương của Trung Quốc). Trong giai đoạn từ năm 1949 đến 2001, Trung Quốc thực hiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, PBOC đóng vai trò độc quyền thị trường vàng trong nước. Tuy nhiên, cùng với việc tự do hóa thị trường tài chính, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc tự do hoá từng bước thị trường vàng. Về cơ bản, kế hoạch tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc cũng bao gồm 3 giai đoạn như nhiều nước khác, đó là:

(i) Giai đoạn 1: Xoá bỏ chế độ độc quyền kinh doanh vàng và cơ chế kiểm soát giá, đồng thời thành lập Sở giao dịch vàng Thượng Hải;

(ii) Giai đoạn 2:Từng bước xoá bỏ cơ chế cấp phép đối với hoạt động sản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng, bước đầu là đối với hoạt động bán lẻ, sau đó cho phép cá nhân được tham gia giao dịch vàng miếng;

(iii) Giai đoạn 3: Xoá bỏ từng bước chế độ quản lý xuất nhập khẩu vàng. Trên cơ sở các bước nêu trên, PBOC đã ban hành các quy định theo hướng nới lỏng quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Dưới đây là những mốc quan trọng trong tiến trình tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Tại phiên thảo luận về Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2009-2012, hàng loạt bất cập, hạn chế trong thực hiện chính sách về BHYT, đặc biệt những tồn tại, vướng mắc trong cơ chế sử dụng Quỹ BHYT là vấn đề bức xúc được nhiều đại biểu Quốc hội phân tích, mổ xẻ.

Theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số tiền thu BHYT giai đoạn 2009-2012 gia tăng nhanh qua các năm. Năm 2009, số thu là 13 nghìn tỷ đồng, đến năm 2012 đã lên đến 40,3 nghìn tỷ đồng. Quỹ BHYT từ chỗ lũy kế bội chi đến năm 2009 là 3.083 tỷ đồng đã cân đối và có kết dư lũy kế đến năm 2012 là 12.892 tỷ đồng.

Cơ quan giám sát cũng chỉ ra rằng, tại nhiều tỉnh miền núi và Tây Nguyên có số kết dư quỹ BHYT khá cao, có tỉnh kết dư hàng trăm tỷ đồng. Trong khi đó, năm 2012 vẫn có 10 tỉnh bội chi Quỹ BHYT, đặc biệt có tỉnh bội chi liên tục Quỹ BHYT từ khi thực hiện đến nay và thường xuyên nhận hỗ trợ từ quỹ dự phòng Trung ương.

Khắc phục tình trạng “bao cấp ngược”

Đọc tiếp »

THANH THANH LAN

Nghiên cứu của nhóm chuyên gia tại Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, ngân hàng nào có sở hữu tư nhân nhiều, các cổ đông lớn trực tiếp tham gia HĐQT thì khả năng sinh lời sẽ càng cao.

Nhận định trên vừa được đưa ra trong cuốn Kỷ yếu của Diễn đàn kinh tế mùa xuân diễn ra sáng nay (28/4). Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia đứng đầu là Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo nhóm tác giả, khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của các ngân hàng Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi mức độ tập trung sở hữu và có quan hệ cùng chiều.

"Điều này hoàn toàn có thể giải thích được khi 5 cổ đông lớn nhất là những người tham gia Hội đồng quản trị (HĐQT), mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành sẽ không còn. Do vậy, HĐQT có quyền ảnh hưởng lớn đến các quyết định kinh doanh, đảm bảo theo đuổi mục tiêu tăng lợi nhuận", nhóm chuyên gia cho biết.

Đọc tiếp »

Chấm dứt nghiệp vụ giữ hộ và kinh doanh vàng của ngân hàng thương mại sẽ giúp dập tắt mọi nguy cơ đe dọa an toàn hệ thống, theo ý kiến các chuyên gia.

Đại học kinh tế TP HCM sáng nay công bố báo cáo thường niên mang tên "Triển vọng kinh tế 2014". Trong đó, Tiến sĩ Trần Ngọc Thơ, Trưởng Khoa Tài chính, cho rằng nghiệp vụ giữ vàng hộ dù được đưa ra ngoài bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại, nhưng bản chất của vấn đề vẫn không thay đổi. Vàng vẫn được huy động và được ghi chép dưới khoản mục nào đó và kvang-mieng-1367040462-500x0-JP-5880-8502hi đưa ra ngoại bảng, càng khó kiểm soát hơn. Theo ông Thơ, Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực thực hiện chủ trương cấm chuyển đổi vốn vàng huy động sang tiền đồng, nhưng lại cho phép ngân hàng kinh doanh vàng, nên bản chất vấn đề không thay đổi. "Quy định chuyển đổi vàng sang tiền đồng là việc bán khống tài sản không thuộc về mình. Còn cho phép ngân hàng đầu tư vàng giống như hình thức dùng vốn huy động để mua vàng thật với quá nhiều rủi ro phía trước", ông Thơ phân tích.

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Cái nghèo có nhiều nguyên nhân, bệnh tật, tai nạn có, khuyết tật bẩm sinh có, không may gặp vận hạn khi làm ăn cũng có. Nhưng nhiều nhất là do không muốn lao động và không biết tổ chức việc lao động hiệu quả. Nếu chính sách giảm nghèo theo cách giúp cho người nghèo sướng hơn mà không phải là từ việc giúp họ lao động hiệu quả thì chính sách đó ngày càng xa rời mục tiêu ban đầu của nó. Xét cho cùng thì ai cũng có thể nghèo, nhưng đừng nên coi cái nghèo là của cải, trừ phi bạn lựa chọn con đường tìm bản ngã của chính mình trong cái nghèo, thì đó lại là chuyện khác!

Mời bạn đọc bài viết sau đây của Hoàng Xuân đăng trên vnexpress.net để hiểu thêm:

Năm đó tôi được những người phụ nữ ở một vùng núi huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận kéo vào một cuộc uống rượu hàng ngày của họ.

Cảnh tượng thật khó quên: trong bóng tối mờ mịt dần phủ sẫm núi rừng và ngôi nhà bé nhỏ, những người đàn bà địu con nhỏ, chuyền tay nhau uống một thứ rượu bắp tự nấu, đục lờ lờ, chứa trong chiếc ly thủy tinh cặn và lớp lớp mồ hôi tay bám dày. Uống từ khoảng 3h chiều, uống mãi đến khi ai đó đốt lên một cây đuốc, chẳng ai đi nấu ăn. Chiếc cối giã bắp khoét từ một khúc gỗ đổ nghiêng ngoài sân, lớp bột bắp trong lòng cối chưa vét sạch, vài con gà ngó nghiêng, nhảy vào mổ mổ, rồi toẹt một bãi. Trong nhà, ánh lửa nhập nhoạng đổ bóng đen lên những khuôn mặt đàn bà và ly rượu vẫn chuyền tay đều đặn. Vài người say đứng lên quay vòng, múa, hát. Những người còn lại nở nụ cười thật hiền lành, càng hiền lành hơn khi hơi men đã ngấm. Uống đi, uống đi, uống cho vui mà. Đứa trẻ chạy quanh xin uống, mẹ nó cũng đồng ý.

Đọc tiếp »

NHÓM NGHIÊN CỨU HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN:

PGS.TS. Đào Hùng, TS.Nguyễn Thạc Hoát, TS. Nguyễn Trọng Nghĩa,

ThS. Nguyễn Thế Vinh, ThS. Nguyễn Việt Anh

Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012[1].

NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo[2] triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD).

Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.

I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012

Đọc tiếp »

Sở hữu chéo, đầu tư chéo có ở hầu hết các hệ thống tài chính trên thế giới với quy mô, mức độ phức tạp và biện pháp quản lý, kiểm soát khác nhau. Nói một cách đơn giản nhất thì sở hữu chéo là việc một số chủ thể sở hữu cổ phần, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở từ hai ngân hàng trở lên hoặc sở hữu cổ phần lẫn nhau. Đến nay, vấn đề sở hữu chéo giữa các ngân hàng thu hút sự quan tâm đáng kể bởi nhiều lý do: Thứ nhất, sở hữu chéo có thể gây cản trở đến năng lực cạnh tranh và vì vậy tác động không nhỏ đến sự phân bổ quyền sở hữu tài sản; Thứ hai, sở hữu chéo trong nhiều trường hợp có liên quan rất lớn đến những người sáng lập chính của ngân hàng mà vì nhiều lý do không thể đảm bảo quản trị ngân hàng hiệu quả.

Trong những năm 1990, hệ thống ngân hàng của Ý đã có những thay đổi sâu sắc cả về khuôn khổ pháp lý lẫn cơ cấu, tổ chức và đó là một trong những nhân tố góp phần gỡ bỏ đáng kể những rào cản về gia nhập thị trường, tự do mở chi nhánh ngân hàng, xác định lại cơ cấu sở hữu và diễn ra hàng loạt các hoạt động hợp nhất, sáp nhập. Trong giai đoạn này, các học giả đa phần tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của cuộc cải cách đến quá trình củng cố hệ thống ngân hàng mà ít chú ý đến sự hình thành hết sức phức tạp của sở hữu chéo gắn liền với các tập đoàn ngân hàng lớn của Ý.

1. Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Ý:

Đọc tiếp »

Luattaichinh: Cần thiết phải giới thiệu qua một chút để thấy sức nặng của những nhận định từ chuyên gia. TS.Nguyễn Đức Thành, sinh năm 1977, kinh tế gia trẻ, một trong các tác giả Báo cáo Kinh tế Việt Nam thường niên, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong những trung tâm học thuật rất có uy tín và tầm ảnh hưởng đối với chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam thời gian gần đây.

ODA – Vấn đề chính là ở chúng ta!

Lại thêm một nghi án hối lộ 16 tỷ liên quan tới dự án ODA giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, cá nhân ông có cảm thấy bất ngờ trước thông tin này không, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Thành: Tôi không thấy bất ngờ vì từ lâu chúng ta vẫn biết các dự án ODA chứa đầy những lời đồn đại hoặc thông tin về sự thiếu minh bạch về tài chính cũng như hiệu quả sử dụng đồng vốn vay.

Điều đáng nói là thêm một lần nữa, thông tin về tham nhũng, nhận hối lộ của phía Việt Nam chỉ được phát giác từ phía nước ngoài. Điều ấy cho thấy chúng ta luôn hoàn toàn thụ động đối với sự tham nhũng trong chi tiêu ODA. Đây là một bằng chứng để người dân tiếp tục tin rằng có sự bao che lẫn nhau, vạn bất đắc dĩ bị lộ ra thì mới coi như có một sự việc như vậy.

Thực tế, những dự án từ nguồn vốn ODA của Nhật việc đấu thầu cũng chỉ chọn những nhà thầu Nhật Bản. Cùng với nhiều ý kiến nhận định giá công trình, dự án ODA từ nguồn Nhật Bản thường cao hơn gấp nhiều lần nước khác. Liệu điều này có lý giải cho thực trạng đưa – nhận hối lộ này, thưa ông?

Đọc tiếp »

TRIẾT HỌC CỦA LUẬT PHÁP

Ảnh

"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục."

Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866 (Nền dân trị Mỹ, Phạm Toàn dịch, Nxb.Tri Thức, 2013)

BÌNH LUẬN NGẮN của luattaichinh

BÌNH LUẬN SỐ 5-2014

VÁN CỜ ĐÔNG BẮC

Nguyên lý chơi cờ khá đơn giản: bạn và đối thủ phải tôn trọng luật chơi.
Nếu đối thủ không tôn trọng luật chơi, họ sẽ không dành được sự ủng hộ của những người chơi khác.

Nhưng nếu đối thủ không tôn trọng luật chơi chung, mà bạn cũng không tôn trọng luật chơi mà bạn đã quen thuộc, thì bạn sẽ ít có cơ hội thắng, nhất là khi đối thủ có khả năng áp đặt luật chơi khác.

Nếu bạn chơi giỏi, bạn phải phán đoán được đối thủ tiếp theo sẽ đi nước cờ nào để có nước đi tiếp theo phù hợp.

Nếu đối thủ của bạn chơi cũng giỏi, thậm chí còn giỏi hơn bạn, thì việc bạn bộc lộ rõ chiến thuật và nước đi đôi khi lại có lợi, vì khi đó ta sẽ không bị cuốn vào lối chơi của họ và đồng thời đối phương sẽ hiểu ra trước khi đi những nước cờ nguy hiểm cho chính bản thân họ.

Khi bạn ít quân hơn trên bàn cờ, việc chơi quá nhanh sẽ nguy hiểm. Đôi khi, đối thủ sẽ bối rối nếu bạn được nhiều người cổ vũ, và những người đó sẽ cùng bạn tìm ra nước cờ hay. Họ cũng muốn bạn thắng, vì nếu bạn thua, họ sẽ là người phải chơi tiếp theo.

Đôi khi, trong một ván cờ giữa hai cao cờ, bàn cờ giữa hai người cũng chỉ là một quân cờ hoặc là một nước cờ thôi, của một bàn cờ lớn hơn!

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG

“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là Vinacho, và bên cạnh là Vinachia. Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút tài sản của nhà nước”

ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC - ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

BÀI MỚI ĐĂNG

ChargingBull
site statistics
SÁNG TẠO - là biết cách vượt qua các nguyên tắc

LỊCH

Tháng Bảy 2014
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 6    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

BÀI ĐĂNG THEO THÁNG

ĐANG TRUY CẬP

site statistics

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • 1,087,511 lượt

RSS Tin tức kinh tế

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 124 other followers