ThS.NGUYỄN VIỆT HẢI

Trưởng ban Nhân thọ – Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

Thị trường bảo hiểm nhân thọ ước đạt hơn 21,1 ngàn tỉ đồng tổng doanh thu phí, tăng trưởng trên 15% trong năm 2013, được đánh giá là sự kiện nổi bật nhất khi của hoạt động bảo hiểm nhân thọ trong bối cảnh hoạt động kinh tế chung của đất nước gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, sự ra đời của nhiều chính sách quan trọng, tích cực, hỗ trợ sự phát triển lâu dài của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ mới là điểm nổi bật nhất của thị trường bảo hiểm nhân thọ trong năm 2013.

1. Bảo hiểm hưu trí tự nguyện:

Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 115/2013/TT-BTC Hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện, có hiệu lực kể từ 15/10/2013, gồm 3 chương và 30 điều. Nội dung của Thông tư 115 ngoài các quy định chung, thông tư nêu rõ Quy định cụ thể về sản phẩm bảo hiểm hưu trí; thiết lập và quản lý quỹ hưu trí tự nguyện; tài khoản bảo hiểm hưu trí; trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm; khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ; đại lý bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm và phân phối bảo hiểm; tổ chức thực hiện.

Tại các nước phát triển, hoạt động bảo hiểm hưu trí tự nguyện do người sử dụng lao động và người lao động cùng thực hiện kế hoạch hưu trí không phải là hoạt động xa lạ gì và đặc điểm chung của các chương trình hưu trí tự nguyện này đều chịu sự hướng dẫn và giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và mức độ đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện phụ thuộc vào mong muốn của người lao động, đem lại quyền lợi hưu trí cho gần như tất cả các đối tượng lao động thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Tại Việt Nam trước khi ban hành Thông tư 115, không tồn tại bất cứ hệ thống hưu trí nào ngoài hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc. Với việc ra đời của Thông tư 115, người lao động có thể tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện dưới 02 hình thưc sau:

+ Tự bản thân cá nhân người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện với thu nhập của mình tại các công ty bảo hiểm.

+ Người lao động tham gia hưu trí tự nguyện với sự trợ giúp của doanh nghiệp/người sử dụng lao động. Sự trợ giúp này có thể là một phần, toàn bộ phần phí bảo hiểm đóng góp cho người lao động.

Đối với trường hợp người lao động tự tham gia bảo hiểm hưu trí được tương tự như người cá nhân tham gia các loại hình bảo hiểm nhân thọ có giá trị tích lũy. Điểm mới về cơ chế chính sách trong hướng dẫn tại Thông tư 115 về hoạt động bảo hiểm hưu trí tự nguyện nằm ở hình thức: cả người lao động và người sử dụng lao động cùng có thể tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện ngoài Bảo hiểm xã hội bắt buộc do Nhà nước quy định. 

Lợi ích của việc thực hiện hoạt động hưu trí tự nguyện với sự tham gia của người sử dụng lao động-người lao động có thể vắn tắt như sau:

Đối với người sử dụng lao động/doanh nghiệp thuê lao động: là công cụ hữu ích giữ lại những lao động giỏi, các cán bộ chủ chốt, gắn kết chặt chẽ lợi ích của doanh nghiệp với người lao động.

Đối với người lao động: chủ động xây dựng được kế hoạch hưu trí, tạo thêm nguồn thu nhập bổ sung sau khi về hưu ngoài số tiền hưu trí cơ bản theo chế độ an sinh xã hội bắt buộc để phục vụ cho các nhu cầu khi về già. Giảm rủi ro cho người lao động khi phụ thuộc duy nhất vào một quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đối với quốc gia:

+ Giảm sức ép gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội và quỹ bảo hiểm bắt buộc với mức đóng góp tối thiểu bằng cách huy động thêm sự đóng góp từ khối tư nhân/doanh nghiệp. Trong bối cảnh tuổi thọ của người dân ngày càng cao bởi điều kiện chăm sóc y tế hiện đại, tiên tiến, tỉ lệ sinh thấp thì sức ép này là ngày càng lớn.

+ Gia tăng các nguồn tiền đầu tư cho xã hội từ các quỹ hưu trí tự nguyện đóng góp giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nguồn quỹ này sau thời gian tích lũy có quy mô rất lớn, ví dụ như tại Hoa Kỳ tổng quỹ hưu trí tự nguyện đạt quy mô lên đến 5000 tỉ đô la Mỹ.

Thực tế tại Việt Nam, những người về hưu hoặc hết tuổi lao động tại Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào một số nguồn thu nhập như sau:

+ Phụ thuộc vào con cái, gia đình.

+ Phụ thuộc vào khoản tiền tích lũy trong quá khứ.

+ Phụ thuộc vào tiền hưu do đã tham gia vào chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp. 

Với đặc điểm dân số với trên 50% lực lượng lao động đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và trên 87% lượng lao động nằm ngoài các khu vực nhà nước, tập trung chủ yếu là ở các hộ kinh doanh cá thể, sản xuất nhỏ thì phần nhiều lực lượng lao động của Việt Nam không có điều kiện tham gia vào chế độ bảo hiểm hưu trí xã hội bắt buộc của nhà nước. Kết quả là sau khi hết tuổi lao động, các nhóm đối tượng này gần như không có thu nhập thường xuyên mà chỉ phụ thuộc vào sự trợ giúp của gia đình, con cái hoặc khoản tích lũy trước đo. Ngoài ra, một thực trạng khác là nhiều cơ quan, doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động dẫn đến tình trạng ảnh hưởng, thậm chí là mất đi, quyền lợi hưu trí chính đáng của người lao động, ngược lại thì người lao động ít có khả năng chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi này của mình. Và trước khi Thông tư 115 ban hành, cũng không có hình thức hưu trí tự nguyện nào đáp ứng nhu cầu tham gia bao hiểm hưu trí tự nguyện của người lao động với sự hỗ trợ của người sử dụng lao động do không có hành lang pháp lý.

Sự ra đời của Thông tư 115 đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp luật trong việc phát triển bảo hiểm nhân thọ hưu trí, là bước đi cụ thể đầu tiên trong việc giảm áp lực cho quỹ bảo hiểm xã hội đang đứng trước nguy cơ vỡ quỹ do tình trạng dân số già đi và tỉ lệ sinh thấp; tạo thêm một trong những công cụ để các doanh nghiệp giữ “chất xám” của mình; và cung cấp cho người lao động như tiểu thương, tiểu chủ hoặc các hộ kinh doanh cá thể, gia đình có thể lựa chọn hình thức hưu trí phù hợp khi không có điều kiện tiếp xúc với hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc với mong muốn cũng được bình đẳng về quyền lợi hưu trí.

Ngoài ra, tính linh hoạt về sản phẩm, đa dạng về quyền lợi (quyền lợi rủi ro, quyền lợi hưu trí, các quyền lợi bổ trợ), về độ tuổi bắt đầu tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện khiến cho người tham gia bảo hiểm có thể linh hoạt chủ động trong việc thiết kế các kế hoạch hưu trí phù hợp với thu nhập của mình nhất.

Với Thông tư 115, rõ ràng các công ty bảo hiểm nhân thọ đang có điều kiện thuận lợi để mở rộng sản phẩm, mở rộng thị trường và phát triển hoạt động kinh doanh của mình theo một hướng mới nhiều tiềm năng trong tương lai.

2. Chính sách thuế thu nhập cá nhân

Dù đã có hành lang pháp lý cho sự phát triển của bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ hay bảo hiểm hưu trí tự nguyện cũng khó có thể phát triển nếu như không có sự hỗ trợ của chính sách thuế phù hợp.

Nghị định 65/2013/NĐ-CP và Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Luật Thuế TNCN, Luật sửa đổi bổ sung Luật Thuế TNCN có hiệu lực chính thức kể từ 1/7/2013 đã đưa ra nhiều quy định mới trong đó gồm một số điểm trực tiếp liên tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ cụ thể:

- Sửa đổi, bổ sung về đối tượng chịu thuế: trong đó đối với các khoản tiền phí mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động đối với những sản phẩm bảo hiểm có tích lũy về phí bảo hiểm chỉ tính vào thu nhập chịu thuế khi doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện trả tiền bảo hiểm với thuế suất áp dụng là 10%. Mức đóng góp vào Quỹ hưu trí tự nguyện được trừ khỏi thu nhập tính thuế TNCN không vượt quá 1 triệu đồng/tháng hoặc 12 triệu/năm. 

- Sửa đổi, bổ sung một số khoản thu nhập thuộc đối tượng miễn thuế: trong đó bổ sung tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện được miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

- Sửa đổi căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ hoạt động đại lý bảo hiểm. Theo đó, tổ chức trả thu nhập cho đại lý thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiền từng phần áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động bán hàng đa cấp từ 9 triệu đồng trở lên, thay cho việc khấu trừ theo tỷ lệ từ 4 triệu như trước đây.

Điểm thay đổi quan trọng của chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động bảo hiểm nhân thọ là việc thu thuế TNCN được thực hiện tại thời điểm lĩnh tiền bảo hiểm nhân thọ (quyền lợi bảo hiểm, quyền lợi hưu trí) thay vì thu ngay tại thời điểm đóng phí bảo hiểm đối với loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí tự nguyện đối với loại hình bảo hiểm người sử dụng lao động mua cho người lao động.

Trên quan điểm của cơ quan thuế, khoản tiền phí bảo hiểm mà người sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động là một khoản thu nhập của người lao động. Theo nguyên tắc đó thì khoản phí bảo hiểm này cũng phải được tính chung vào thu nhập chịu thuế đối với thuế TNCN và thực hiện việc thu thuế tại nguồn (khi người sử dụng lao động chi trả thu nhập). Tuy nhiên, đặc thù của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là quá trình tiêu dùng (nhận quyền lợi bảo hiểm, quyền lợi hưu trí) xảy ra sau hàng chục năm, thậm chí có thể xảy không xảy ra tùy thuộc vào cam kết về thời gian làm việc, mức độ cống hiến giữa bên sử dụng lao động và người lao động. Trong khi đó thì đối với bản thân người lao động, họ chưa nhận được quyền lợi về bảo hiểm, thậm chí có thể không nhận được quyền lợi, nhưng thu nhập thực tế hàng tháng bị giảm đi so với khoản thu nhập không có phí bảo hiểm do chủ sử dụng lao động đóng hộ.

Vướng mắc này dẫn tới không phát huy được tác dụng ưu đãi về thuế khi triển khai thực hiện Nghị định 122/2011/NĐ-CP về hướng dẫn thuế Thu nhập doanh nghiệp (mới được thay thế bằng Nghị đinh 218/2013/NĐ-CP) trong đó khoản phí mua của người sử dụng lao động được công nhận là một loại chi phí được khấu trừ của doanh nghiệp. Lý do là người sử dụng lao động và người lao động chưa thấy có lợi gì từ việc mua bảo hiểm nhân thọ dẫn đến việc họ không tham gia.

Mặc dù còn có một số vướng mắc nhỏ trong  thực hiện nhưng có thể thấy rõ, việc thay đổi sang hình thức đóng thuế TNCN tại thời điểm trả tiền bảo hiểm, trả quyền lợi hưu trí tự nguyện với thuế suất 10% trên số phí của người sử dụng lao động mua cho người lao động là chính sách phù hợp với đặc thù của hoạt động bảo hiểm nhân thọ, phát huy đầy đủ tính ưu việt của chính sách ưu đãi thuế đối với người lao động và thể hiện sự công bằng về thuế đối với các cá nhân có thu nhập. Sự thay đổi này tạo ra một cơ chế hoàn chỉnh về chính sách thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phát triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cho người lao động và các loại hình sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện.

Nói tóm lại, năm 2013 thực sự là một năm có thay đổi chính sách quan trọng, có tính đồng bộ ăn khớp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ trong tương lai.

Nguồn: Trang thông tin điện tử Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (avi.org.vn)

About these ads