NGUYỄN XUÂN HƯNG

I- Những đóng góp của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)

1- Đối với QTDND cơ sở

a- Những kết quả sau 15 năm thành lập, củng cố, phát triển

Sau 15 năm thành lập đến tháng 12/2008 cả nước đã có 1.015 QTDND cơ sở trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố, tổng nguồn vốn đạt 16.674 tỷ đồng, gấp hơn 200 lần, vốn điều lệ đạt 779 tỷ đồng, gấp 70,81 lần, đạt gần 800 triệu đồng, vốn huy động tại chỗ đạt 12.329 tỷ đồng, gấp 224 lần, vốn đi vay đạt 2.365 tỷ đồng, trong đó vay của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (QTDTW) là 2.238 tỷ đồng, chiếm 94,6% tổng số vốn vay; tổng dư nợ cho vay đạt 14.142 tỷ đồng, gấp 196 lần, trong đó cho vay thành viên là 14.141 tỷ đồng chiếm 99,98%, dư nợ cho vay sản xuất nông nghiệp chiếm 56,7%, ngành nghề chiếm 28,5%, cho vay sinh hoạt chiếm tỷ lệ 7,9%; nợ xấu chiếm tỷ lệ 0,53% so với tổng dư nợ; hàng năm số hộ gia đình được vay vốn ngày càng tăng: năm 2005 là 671 ngàn lượt thành viên được vay vốn, năm 2006 là 733 ngàn, năm 2007 là 786 ngàn, năm 2008 là 785.698 lượt vay vốn, nhờ đó số cá nhân, hộ gia đình gia nhập QTDND ngày càng tăng, đến cuối năm 2008 đã có 1.349.804 thành viên gia nhập, tức là chiếm gần 1/10 số hộ gia đình hiện có. Đến nay, số thành viên đã gấp 27,20 lần so với năm 1994; số vốn cho vay bình quân là 13 triệu đồng/1 món vay; do nguồn vốn huy động hầu hết là ngắn hạn nên QTDND chỉ tập trung cho vay ngắn hạn, nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính quốc tế như ADB và các tổ chức quốc tế khác tài trợ vốn trung và dài hạn cho hệ thống QTDND thông qua QTDTW, đến cuối năm 2008, đạt 1,422 tỷ đồng chiếm 10,1% tổng dư nợ;

Vốn khả dụng đạt 11,3% tổng nguồn vốn, trong giai đoạn khó khăn do thặt chặt chính sách tiền tệ và sự cạnh tranh quyết liệt về lãi suất với các tổ chức tín dụng khác nhưng hoạt động của các QTDND vẫn đảm bảo an toàn, không có quỹ nào rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Lợi nhuận năm 2008 đạt 183 tỷ đồng, tăng so với năm 2007 là 164 tỷ đồng.

b- Những đóng góp của hệ thống QTDND cho công cuộc xóa đói giảm nghèo

Với những đồng vốn vay của QTDND mặc dù còn ít ỏi nhưng cũng đã giúp cho nhiều hộ nông dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống và thoát nghèo; tại Diễn đàn doanh nghiệp vi mô Việt Nam lần thứ nhất – 2007 đã trao giải thưởng “Doanh nhân vi mô Citi Việt Nam 2007” cho 60 doanh nhân vi mô, 30 cán bộ tín dụng xuất sắc và 11 tổ chức tín dụng vi mô đoạt giải. Điều làm cho nhiều người ngạc nhiên và khâm phục là các doanh nhân vi mô điển hình như ông Nguyễn Hải Bình ở xã miền biển Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá khi 10 năm trước đây không có ruộng đất, ngư cụ nhưng được vay 300 ngàn đồng từ QTDND Hải Bình đến nay ông Bình đã là chủ nhân của một cơ sở cung cấp hải sản cho các đại lý cung ứng cho thị trường trong nước và Trung Quốc với doanh thu 5 tỷ đồng hàng năm, thu hút hơn 100 lao động; chị Phan Thị Lương ở xã Tuân Châu, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã vượt qua khó khăn, đói nghèo, chồng chết nhưng sau 10 năm với số tiền 10 triệu đồng được QTDND xã cho vay, chị đã trở thành chủ trang trại nuôi cá với doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm, thu hút hàng ngàn lao động ở địa phương. Phát biểu tại cuộc trao giải ông Charly Madan Tổng Giám đốc Citi Bank tại Việt Nam cho rằng: “Tôi đã xem hồ sơ của những cá nhân đoạt giải, những câu chuyện của chị Hồng ở Sơn La, chị Sự ở Đồng Nai, chị Lương ở Vĩnh Phúc mỗi người một vẻ, nhưng họ có điểm chung là nỗ lực cao nhất cho việc kinh doanh để gia đình thoát nghèo và trở thành gương sáng cho mọi người xung quanh” (2), những điển hình thoát nghèo nêu trên phần lớn đều từ đồng vốn vay của các QTDND. Nhưng theo đánh giá của WB, khoảng 70-80% số dân nghèo ở Việt Nam đã tiếp cận được nguồn tín dụng vi mô (TDVM); tuy nhiên về chất lượng và phạm vi hoạt động TDVM chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xoá đói, giảm nghèo; vẫn còn tình trạng khi gặp khó khăn họ phải đi vay “nóng” với lãi suất cao hoặc hụi họ khi bị chụp giật không ai bảo vệ.

2- Đối với QTDTW

Được thành lập theo Quyết định số 162/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN QTDTW khai trương hoạt động ngày 5/8/1995 với chức năng huy động vốn, đại diện cho hệ thống tiếp nhận vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế tài trợ cho chương trình tín dụng phát triển nông nghiệp – nông thôn, điều hoà vốn và cung cấp các dịch vụ cho toàn hệ thống. Đến nay, đang ở tuổi 14 mới là vị thành niên nhưng QTDTW đã trưởng thành vượt bậc: từ khi chỉ có Trụ sở chính ở Thủ đô Hà Nội, nay đã có 24 Chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực tiếp cung cấp vốn và điều hòa vốn cho các QTDND thành viên, năm 1995 tổng nguồn vốn mới đạt 121 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 103 tỷ đồng, vốn huy động là 11 tỷ đồng, dư nợ chủ yếu là cho vay trong hệ thống là 64 tỷ đồng, thì đến cuối tháng 12/2008, QTDTW đã đạt mức tăng trưởng rất ngoạn mục, tổng nguồn vốn đạt 6.352 tỷ đồng, tăng 52 lần, trong đó vốn điều lệ đạt 612 tỷ đồng, vốn huy động 3.985 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 67,2% tổng nguồn vốn, vốn vay các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đạt 1.101 tỷ đồng; dư nợ cho vay trong và ngoài hệ thống đạt 5.066 tỷ đồng, tăng gấp 79 lần, trong đó cho vay trong hệ thống 2.238 tỷ đồng, chiềm 44,2% tổng dư nợ, nợ xấu là 154.843 triệu đồng chiếm 3,1% tổng dư nợ, trong đó nợ xấu toàn hệ thống là 10 tỷ đồng, chiếm 0,4% dư nợ cho vay, kết quả kinh doanh đạt xấp xỉ 23 tỷ đồng.

Mặc dù trải qua những thăng trầm, sau 9 năm củng cố, chấn chỉnh đến nay, hệ thống QTDND đã trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng trực tiếp huy động vốn và cho vay các hộ nông dân để sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phục vụ có hiệu quả cho “tam nông”, QTDTW đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho hệ thống QTDND và phát triển kinh tế HTX tạo tiền để cho phát triển nông nghiệp nông thôn và xóa đói giảm nghèo, cụ thể:

a- Đảm bảo an toàn hoạt động và khả năng thanh khoản cho QTDND

- Từ những năm 1998, thực hiện Chỉ thị số 05/1998/CT-NHNN về áp dụng các biện pháp khẩn cấp để củng cố, chấn chỉnh hoạt động QTDND, chấp hành chỉ đạo của Ban Lãnh đạo NHNN, QTDTW đã ứng hàng tỷ đồng để giúp một số QTDND vượt qua khó khăn. Tiếp đến giai đoạn củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND từ năm 2001 theo Chỉ thị số 57/CT-TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị và Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ đồng thời phối hợp với Bảo hiểm tiền gửi để kịp thời chi trả cho người gửi tiền nhờ đó đã không xảy ra tình trạng mất trật tự an ninh, xã hội ở các địa phương và đảm bảo an toàn cho hệ thống. Năm 2008, hầu hết các ngân hàng có quy mô nhỏ và các QTDND đều gặp khó khăn thanh khoản, nhưng QTDTW đã hỗ trợ kịp thời vốn cho các đơn vị trong hệ thống nên không có quỹ nào mất khả năng chi trả, vẫn hoạt động an toàn và ngày càng phát triển.

- Hỗ trợ tư vấn, đào tạo và cung cấp các phần mềm về công nghệ thông tin cho các QTDND thành viên, thông qua hoạt động tín dụng, đã tư vấn về quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản…, đồng thời, kết hợp với Hiệp hội QTDND tổ chức các lớp tập huấn nâng cao trình độ quản trị cho Ban lãnh đạo và cán bộ tác nghiệp QTDND thành viên.

b- Đóng góp thúc đẩy kinh tế hợp tác xã phát triển

Tại Quyết định số 272/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch phát triền kinh tế tập thể giai đoạn 2006-2010, đối với hệ thống QTDND, đã chỉ rõ “Xây dựng và phát triển hệ thống QTDND từ Trung ương đến cơ sở vững mạnh theo hướng liên kết chặt chẽ, tiến tới xây dựng ngân hàng hợp tác xã, gắn chặt hệ thống QTDND với các HTX khác; đảm bảo hệ thống QTDND phát triển ổn định; vững chắc và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống”, và việc Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung vốn điều lệ cho QTDTW tại văn bản số 3583/VPCP-KTTH ngày 7/7/2006 theo tờ trình của NHNN cho thấy Chính phủ đang từng bước chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng QTDTW trở thành ngân hàng hợp tác xã tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế HTX phát triển.

3- Hệ thống QTDND ngày càng hoàn thiện

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục hoàn thiện hệ thống QTDND, trong đó chuyển mô hình từ 3 cấp gồm QTDND cơ sở, QTDND khu vực và QTDTW thành hệ thống 2 cấp chỉ còn lại QTDND cơ sở và QTDTW; thiết lập mối liên kết về tổ chức và liên kết về vốn cho toàn hệ thống:

-Việc chuyển đổi mô hình từ 3 cấp sang 2 cấp đã được NHNN chỉ đạo QTDTW xây dựng đề án sáp nhập QTDND khu vực vào QTDTW, sau hơn 1 năm triển khai, năm 2002 đã hoàn tất việc sáp nhập, các QTDND khu vực đã trở thành các chi nhánh của QTDTW, đến nay đã có 24 chi nhánh ở các tỉnh làm nhiệm vụ điều hòa vốn trong hệ thống, cho vay các QTDND cơ sở trên địa bàn, đồng thời, đảm bảo khả năng chi trả cho các QTDND găp khó khăn, với những dự án vốn vay trung và dài hạn của các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp, QTDTW đã phổ biến và triển khai đến các QTDND có nhu cầu và đáp ứng các điều kiện cần thiết.

- Dưới sự chỉ đạo của NHNN, cuối năm 2005 đã thành lập Hiệp hội QTDND, đến nay hầu hết 1.015 quỹ đã gia nhập Hiệp hội, nhằm thực hiện vai trò đại diện vào bảo vệ thành viên trước pháp luật, tham gia với các cơ quan nhà nước về các chính sách đối với hệ thống, tổ chức đào tạo cán bộ, tư vấn về luật pháp, cơ chế chính sách, trợ giúp về nâng cao trình độ và ứng dụng công nghệ thông tin cho các hội viên; trong thời gian qua Hiệp hội đã phối hợp với Học viện Ngân hàng tổ chức các lớp đào tạo trình độ trung cấp cho cán bộ của hội viên và con em họ muốn học tập để có đội ngũ kế cận, tổ chức tập huấn nâng cao trình độ cho cán bộ hội viên, cung cấp thông tin và phản ảnh hoạt động của hệ thống thông qua trang điện tử của Hiệp hội… Những việc làm đó đã không ngừng nâng cao vị thế của Hiệp hội trước cơ quan nhà nước và công chúng.

- Hiệp hội QTDND đang thực hiện việc mở rộng thí điểm thành lập Quỹ an toàn hệ thống nhằm xây dựng các cơ chế và nguồn vốn để hỗ trợ cho các QTDND cơ sở khi gặp khó khăn về khả năng chi trả hoặc khả năng thanh toán hoặc phục hồi hoạt động sau khi bị NHNN đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, hiện Đề án này đã thí điểm ở tỉnh Thái Bình và đang triển khai mở rộng thí điểm ở 2 tỉnh khác.

- Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức QTDND, Hiệp hội cũng đang xúc tiến thiết lập đề án Tổ chức kiểm toán độc lập phù hợp với khả năng và trình độ phát triển của hệ thống QTDND nhằm tổ chức giám sát an toàn hoạt động của từng quỹ và cả hệ thống, quản lý và sử dụng quỹ an toàn hệ thống theo quy chế của Hiệp hội.

II- Những tồn tại và yếu kém của QTDND hiện nay

1- Năng lực tài chính và thị phần tín dụng còn hạn chế

Vốn điều lệ của các QTDND còn thấp nên mức huy động vốn và cho vay bị hạn chế. Theo báo cáo thường niên của NHNN, tỷ trọng huy động vốn chỉ đạt 1%, tỷ trọng cho vay đạt 1,4% so với tổng số các tổ chức tín dụng; cho vay, rủi ro tín dụng cao do thiên tai, dịch bệnh, rớt giá. Số tiền vốn cho vay bình quân mới đạt 13 triệu đồng/1 món vay, chỉ đủ chi phí cho sản xuất nhỏ, lẻ của hộ gia đình, nếu thực hiện Nghị quyết lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về tích tụ ruộng đất theo hướng trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp đòi hỏi nguồn vốn lớn hơn trong lúc đó năng lực tài chính của hệ thống QTDND còn hạn hẹp. Trong bối cảnh lạm phát tăng, lãi suất tín dụng trên thị trường tăng cao QTDND khó cạnh tranh, vì vậy phần lớn QTDND đều thiếu vốn, (mới chỉ có 227 quỹ tự cân đối được vốn chiếm 1/5 số quỹ), nên phải dựa vào nguồn vốn vay của QTDTW hoặc các tổ chức tín dụng khác.

2- Hệ thống QTDND phát triển chưa đồng đều

Thị trường tín dụng ở nông thôn đang có nguy cơ bị bỏ trống. Số lượng QTDND còn rất hạn chế, mới chỉ có 1/10 số xã, thuộc 56/63 tỉnh, thành phố, còn 7 tỉnh, thành phố chưa có QTDND, nhất là các tỉnh miền núi, trung du như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…; số lượng QTDND ở nhiều tỉnh, thành phố còn ít như Cần Thơ có 3, Hậu Giang 1, Bến Tre có 3, các tỉnh miền núi như Lào Cai, Đắc Nông, Bình Phước chỉ có từ 1 đến 2 quỹ v.v. chưa đáp ứng nhu cầu huy động và vay vốn của người dân; mặt khác, lâu nay chúng ta mới chú ý thành lập QTDND ở nông thôn còn ở đô thị phần lớn còn ít, một bộ phận người lao động, dân nghèo ở đô thị chưa tiếp cận với tổ chức này, khi có nhu cầu phải đi vay nặng lãi, tham gia hụi họ gây thiệt hại về tài chính, đó là sự bất bình đẳng về sự thụ hưởng dịch vụ đối với một bộ phận dân cư.

3- Trình độ công nghệ còn lạc hậu

Tuy đến nay hầu hết QTDND đã có máy vi tính để phục vụ công tác kế toán, quản lý nợ vay nhưng giao dịch chưa liên thông giữa QTDTW với các QTDND cơ sở, nên chu chuyển vốn trong hệ thống chưa kịp thời, chưa phát triển được dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong hệ thống, mọi giao dịch phải trực tiếp thực hiện tại các chi nhánh đóng ở tỉnh, thành phố, trình độ vận hành và quản lý công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu, một phần mạng thông tin liên lạc cấp quốc gia chưa phủ rộng khắp nhất là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.

4- Dịch vụ ngân hàng bán lẻ còn nghèo nàn

Đến nay, hầu hết các QTDND chỉ mới cung cấp ra thị trường dịch vụ huy động vốn và cho vay, chỉ một số ít quỹ đã thực hiện dịch vụ chuyển tiền trong nội bộ hệ thống, hoặc làm đại lý chi trả tiền kiều hối còn dịch vụ ngân hàng bán lẻ khác hầu như chưa có.

5- Cản trở về tâm lý đối với QTDND

Những mặc cảm của người dân, chính quyền, cấp uỷ các địa phương đối với phong trào HTXTD trong những năm 1989-1991 còn khá nặng nề; mặt khác, do số lượng cán bộ NHNN tỉnh, thành phố có hạn, giao thông, liên lạc khó khăn nên công tác quản lý gặp khó khăn, không khỏi phát sinh tâm lý e ngại khi phát triển thêm QTDND, những lý do trên đang là rào cản trong việc phát triển hệ thống QTDND.

Iii- Một số kiến nghị

Để phát triển hệ thống QTDND trở thành một định chế tài chính có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế và đáp ứng yêu cầu phục vụ “tam nông” như Nghị quyết lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, tác giả xin có một số kiến nghị:

1- Tuy NHNN đã xây dựng đề án phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020 với mục tiêu đạt được 1.700 QTDND cơ sở, nhưng đối với nước ta, mặc dù, tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao hơn giá trị sản xuất nông nghiệp, nhưng số cư dân sản xuất nông nghiệp và sống ở nông thôn hiện chiếm tỷ lệ hơn 70% tổng số dân số trong cả nước, nên sản xuất nông nghiệp, nông dân còn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội; vì vậy, Nhà nước cần xây dựng định hướng chiến lược từ nay đến năm 2025 và ban hành các cơ chế chính sách phù hợp nhằm khuyến khích thành lập thêm nhiều QTDND trở thành một định chế tài chính trên thị trường tiền tệ ở nông thôn và một bộ phận ở các đô thị sử dụng điều kiện về năng lực tài chính, mạng lưới, trình độ quản lý để đáp ứng phát triển kinh tế nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 57/CT-TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 135/2000/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND, cần được coi là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài, đặc biệt là công tác thanh tra, giám sát là quan trọng đảm bảo an toàn cho từng quỹ và cả hệ thống.

2- Tăng cường công tác tuyên truyền để thành lập thêm QTDND ở những địa phương, nhất là các tỉnh miền núi, ở các huyện, thị chưa có QTDND; cần xây dựng và nêu gương những điển hình tiên tiến để xoá dần mặc cảm đối với HTXTD trước đây; nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương về yêu cầu phát triển hệ thống QTDND đáp ứng chiến lược “tam nông” của Đảng và phát triển kinh tế HTX của Chính phủ, NHNN các tỉnh nên coi việc phát triển QTDND là nhiệm vụ chính trị của ngành Ngân hàng, nhưng có bước đi thận trọng để tránh “vết xe đổ” của những năm 1997-1998.

3- Cần có cơ chế, chính sách phù hợp, nhất là chính sách lãi suất nhằm khuyến khích đối với các tổ chức tín dụng nhỏ; kể cả ngân hàng nước ngoài đầu tư tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn mà không nên áp dụng chung một khung cơ chế, chính sách như đối với các tổ chức tín dụng phục vụ đô thị. Tuy năm 2008, NHNN đã có quyết định về lãi suất tín dụng của hệ thống QTDND không quá 165% so với lãi suất cơ bản cao hơn các NHTM khác, nhưng Thông tư số 1/2009 của NHNN còn cho phép các NHTM được áp dụng lãi suất thỏa thuận trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, mở thẻ tín dụng, cho nên chính sách lãi suất đối với hệ thống QTDND cần được nghiên cứu để ban hành mức lãi suất phù hợp vừa không để QTDND chạy theo mục tiêu lợi nhuận nhưng đủ bù đắp chi phí và có tích lũy.

Kinh nghiệm của Trung Quốc năm 2007, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã ban hành một số văn bản nhằm tháo dỡ các rào cản như huy động vốn, giải quyết phá sản đối với loại hình công ty cho vay nông thôn; các công ty này được ấn định lãi suất phù hợp với rủi ro tín dụng bằng việc cho phép thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đến 4 lần và tối thiếu 0,9 lần mức cho vay, lãi suất cho vay do PBoC ấn định (hiện nay là 7,47% mức cao nhất trong 9 năm trở lại đây). Nhờ đó, UA Easy Lenders, một công ty cho vay nhỏ thử nghiệm đầu tiên của Trung Quốc hiện cho vay với lãi suất là 27,6%/năm. Trung Quốc hy vọng giúp cho 700 triệu nông dân tiếp cận dễ dàng nguồn vốn từ các tổ chức này (3)

4- Đề nghị Chính phủ tiếp tục tăng nguồn vốn hỗ trợ cho hệ thống QTDND thông qua việc bổ sung vốn điều lệ cho QTDTW để tổ chức tài chính này trở thành Trung tâm tín dụng làm cơ sở cho việc phát triển các dịch vụ và đầu tư, trở thành điểm tựa vững chắc cho sự phát triển, an toàn hệ thống và hỗ trợ cho phát triển kinh tế HTX.

5- Đề nghị Chính phủ điều chỉnh vốn pháp định đối với QTDND cơ sở lên tối thiểu 1 tỷ đồng thay vì 100 triệu đồng theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006, có như vậy mới nâng cao năng lực tài chính, khả năng huy động và cho vay vốn của từng QTDND, tạo điều kiện nâng cao số tiền cho vay các thành viên là các HTX, chủ trang trại và các doanh nghiệp ở nông thôn thay thế dần vai trò của các NHTMNN sau khi cổ phần hoá, phù hợp với các quy định về an toàn vốn,

6- Đề nghị Nhà nước giảm thuế thu nhập đối với các QTDND cơ sở ở mức từ 10% thay vì 20% như khoản 4 điều 13 Luật Thuế doanh nghiệp năm 2008, áp dụng từ 1/1/2009; số thuế được giảm QTDND phải đầu tư vào công nghệ thông tin trang bị phần cứng và phần mềm; NHNN tạo điều kiện để các QTDND được hưởng lợi ích từ dự án “Liên kết nông thôn và thành thị góp phần chống đói nghèo” mà NHNN và DID vừa ký kết, giúp các thành viên của QTDND được sử dụng những dịch vụ giao dịch mới trên cơ sở ứng dụng công nghệ tin học.

7- Đề nghị Nhà nước dành một tỷ lệ nhất định trong lợi tức cổ phần hàng năm thuộc vốn của nhà nước tại QTDTW để lập quỹ đào tạo cán bộ cho hệ thống QTDND để nâng cao năng lực quản trị, điều hành, trình độ công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững hệ thống QTDND, NHNN và Hiệp hội QTDND là những đơn vị tổ chức đào tạo và đào tạo lại cán bộ từ cán bộ quản lý đến cán bộ tác nghiệp kể cả cán bộ công nghệ trên cơ sở liên kết đào tạo với Học viện Ngân hàng.

8- Đề nghị Chính phủ và NHNN cho các QTDND cơ sở tham gia giải ngân nguồn vốn hỗ trợ lãi suất cho nông nghiệp, nông thôn và hỗ trợ vốn cho các hộ gia đình, doanh nghiệp thuộc 61 huyện nghèo để tạo thuận lợi cho các thành viên QTDND vay vốn và cơ hội để QTDND mở rộng tín dụng tăng thêm năng lực tài chính.

Mong rằng, những ý kiến trên đây trao đổi với bạn đọc để góp phần hệ thống QTDND phát triển, hoạt động an toàn phục vụ có hiệu quả cho “tam nông” và phát triển kinh tế HTX theo Nghị quyết của Đảng và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Tài liêu tham khảo:

1- Báo cáo tình hình hoạt động và tiến độ củng cố, chấn chỉnh hệ thống QTDND của Vụ Tín dụng hợp tác NHNN.

2- Nguồn Thời báo Kinh tế Việt Nam số 301 ngày 17/12/2007, Thời báo Ngân hàng tháng 12/2007.

3-Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 12/6/2008

NGUỒN: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 13 NĂM 2009

About these ads