HOÀNG THỊ HUẾ

1. Thực trạng áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên

1.1. Những kết quả đạt được trong việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên

Luật thuế TNCN là một văn bản luật được soạn thảo cẩn thận, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay. Luật thuế TNCN chính thức được áp dụng từ ngày 01/01/2009. Tuy thời gian áp dụng chưa lâu, nhưng có thể nhận thấy được những kết quả nhất định từ việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên.

Một là, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên tạo nguồn thu đáng kể ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước. Một số khoản thu nhập không thường xuyên trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) được đưa vào diện thu nhập chịu thuế gồm: thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên, thu nhập chuyển nhượng bất động sản của cá nhân chỉ có nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế), thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng xổ số và khuyến mại). Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán. Việc bổ sung một số khoản thu nhập không thường xuyên vào diện thu nhập chịu thuế điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước góp phần kiểm soát thu nhập của các cá nhân từ những nguồn thu này. Đồng thời quy định này sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế. Điều này rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, hoạt động nhượng quyền thương mại, bản quyền, đầu tư vốn đang diễn ra sôi động.

Ví dụ: nhượng quyền thương mại mới xuất hiện ở Việt Nam đầu những năm 1990, nhưng hoạt động thương mại này đang phát triển với tốc độ rất nhanh, ước tính 20%/ năm và không ngừng khẳng định vai trò của nó cho sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.[22]

Hai là, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên góp phần đảm bảo tốt hơn công bằng xã hội. Trước là, sự công bằng trong nghĩa vụ thuế giữa các cá nhân có mức thu nhập khác nhau. Bởi nó tác động trực tiếp vào thu nhập của các cá nhân, người có thu nhập cao nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp nộp thuế ít. Điều này hết sức quan trọng khi ở Việt Nam, các thị trường tiền tệ, tài chính, bất động sản… sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai gần, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư và tạo ra các khoản thu nhập khác nhau. Cùng với đó, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ kéo theo dòng chảy số lượng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong nước, do đó sự đa dạng và gia tăng thu nhập của cá nhân trong xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư lại ngày càng lớn. [9, tr.19]. Chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên đảm bảo tốt hơn sự phân phối lại thu nhập. Sau là, việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với khoản thu không thường xuyên góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa những cá nhân phải nộp thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh, lao động. Trước đây, nhiều khoản thu nhập như thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản, quà biếu, quà tặng, thừa kế,… không bị đánh thuế, trong khi đó có rất nhiều cá nhân có thu nhập cao thậm chí là rất cao từ những hoạt động này, gây ra sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các cá nhân. Chính vì vậy, việc thực thi có hiệu quả chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên phần nào giảm bớt sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế đó. Đồng thời, những khoản thu từ thuế, trong đó có thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên, sẽ đảm bảo cho Nhà nước có khả năng cung cấp ngày càng tốt hơn các khoản chi phúc lợi xã hội, giúp cho người nghèo cơ hội có được mức sống cải thiện hơn.[17]

Ba là, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên ngày càng phù hợp với thực tế áp dụng trong nước và tương đồng với pháp luật các quốc gia trên thế giới. Cụ thể: Trong bối cảnh nước ta đang cần tiếp nhận các công nghệ tiên tiến để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sản xuất kinh doanh nên thu nhập từ chuyển giao công nghệ chịu thuế suất là 5% và thu nhập trúng thưởng là 10%. Mức thuế suất ưu đãi cho thu nhập từ chuyển giao công nghệ có ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy gia tăng thu nhập từ chuyển giao công nghệ và không tạo ra rào cản đối với hoạt động này. Nhờ vậy, nước ta mới có cơ hội tiếp nhận được công nghệ tiên tiến trên thế giới phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Canada, Australia, …cũng có quy định đánh thuế vào các khoản thu nhập không thường xuyên (thừa kế, quà tặng, trúng thưởng) [5]. Sự tương đồng trong cách tiếp cận của chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trong bối cảnh giao lưu quốc tế hiện nay.

Bốn là, áp dụng luật thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên đã kiểm soát tốt hơn nguồn thu nhập của các đối tượng nộp thuế, góp phần triển khai luật thuế TNCN một cách toàn diện. Theo quy định pháp luật hiện hành thì thu thuế đối với thu nhập từ thừa kế và quà tặng còn theo quy định của Pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao đã sửa đổi 2004 (đã hết hiệu lực) thì không thu thuế đối với các khoản thu nhập thu nhập từ thừa kế, quà tặng. Nhưng qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước cho thấy để vừa kiểm soát được sự dịch chuyển tài sản, vừa để đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích mọi người lao động, tự tạo ra thu nhập, không trông chờ, ỷ lại vào người khác, hầu hết các nước đều đánh thuế và còn đánh thuế rất cao đối với loại thu nhập này. Các nhà kinh tế cổ điển Anh còn dựa trên quan điểm “Cá nhân phải được hưởng những gì do lao động của họ tạo ra mà đề nghị đánh thuế thật nặng vào thu nhập ngoài lương còn sẽ đánh thuế nhẹ hơn rất nhiều vào thu nhập từ tiền lương” [3, tr125]. Do vậy, việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên là điều thiết yếu giúp thực hiện luật thuế TNCN triệt để hơn.

Năm là, công tác quản lý thuế được tổ chức tốt hơn.

Ngành thuế đang tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu quản lý thuế. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hoá công tác quản lý thuế. Bắt đầu từ năm 2007, bộ máy quản lý thuế đã được tổ chức lại theo Quyết định số 76 ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó đã hình thành các hệ thống quản lý theo chức năng, bao gồm: hệ thống tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; hệ thống quản lý kê khai và kế toán thuế; hệ thống quản lý nợ và cưỡng chế thuế và hệ thống kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm về thuế. Trong quá trình sắp xếp lại bộ máy đã giảm được 2756 đầu mối công việc, đồng thời phát huy tính hiệu quả, tích cực của mô hình tổ chức mang tính chuyên sâu, chuyên nghiệp.[18]

Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về thuế TNCN được đẩy mạnh. Ví dụ như Đài Phát thanh Truyền hình Trung ương, địa phương có chuyên mục để tuyên truyền phổ biến về Luật thuế TNCN. Người dân thông qua đó có thể nắm được ý nghĩa, tác dụng của thuế, và đồng tình ủng hộ cơ quan thuế thực hiện nhiệm vụ. Đóng thuế cho Nhà nước và có nghĩa vụ, trách nhiệm tạo điều kiện, hỗ trợ cơ quan thuế thực thi công vụ là việc làm cần thiết của mỗi người dân. Ở nước ta, người dân chưa hình thành thói quen nộp thuế đối với những khoản thu nhập không thường xuyên mà chỉ quen với việc nộp thuế TNCN đối với những khoản thu từ tiền công, tiền lương, kinh doanh. Hiểu được điều này, ngành thuế đã chú trọng giải thích thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên trong khi thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến Luật thuế TNCN.

Công tác quản lý thuế đã được hiện đại hoá. Cụ thể: Quy trình quản lý thuế TNCN bắt đầu bằng việc đăng ký cấp mã số thuế thì ngành thuế cũng xây dựng các ứng dụng CNTT ngay từ khâu này. Đối với các cá nhân có phát sinh thu nhập độc lập mà tự kê khai với cơ quan thuế thì ngành thuế đã ban hành tờ khai thu nhập tạm nộp để người nộp thuế kê khai số ước thu nhập hàng tháng, hàng quý và nộp lại cho cơ quan thuế. Tờ khai đó sẽ được xử lý băng CNTT để xác định nghĩa vụ thuế ban đầu của người nộp thuế.[19]. Tuy nhiên, công tác này còn gặp nhiều khó khăn.

Trước tình hình kinh tế trong nước suy giảm, thị trường chứng khoán giảm sâu, Chính phủ đã có nhiều biện pháp linh hoạt như chỉ đạo Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 27/2009/TT-BTC hướng dẫn thực hiện việc giãn thời hạn nộp thuế TNCN đối với một số khoản thu nhập không thường xuyên, bao gồm: thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoản); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ quà tặng. Trong đó, các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại được giãn thời gian nộp thuế TNCN đối với cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Việc giãn nộp thuế cho các khoản thu nhập này thì ngân sách mỗi tháng sẽ thất thu khoảng 1.000 tỷ đồng, ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách, tuy nhiên chính sách này sẽ kích thích tiêu dùng, hỗ trợ người dân có thêm chi tiêu để vượt qua khó khăn.[21]. Chính sách này nằm trong chính sách kinh tế vĩ mô kích cầu, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tiếp sau đó là Thông tư 62/2009/TT-BTC hướng dẫn, sửa đổi Thông tư 84/2008/TT-BTC được ban hành kịp thời để khắc phục những quy định chưa hợp lý, bổ sung các quy định mới cho phù hợp với tình hình kinh tế đất nước. Nhằm mục đích tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế Thông tư 62 quy định: cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu hoặc nhận cổ phiếu thưởng chưa phải nộp thuế TNCN khi nhận cổ phiếu, khi chuyển nhượng số cổ phiếu này cá nhân mới phải nộp thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán và thu nhập từ đầu tư vốn; Cá nhân được chia cổ tức bằng tiền mặt nhưng không nhận mà ghi tăng vốn đầu tư cũng áp dụng phương pháp thu thuế TNCN như đối với trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu hoặc cổ phiếu thưởng.

1.2. Những bất cập của quy định pháp luật trong việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên

Thứ nhất, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên có diện thu nhập chịu thuế tương đối hẹp, nhiều khoản thu nhập của cá nhân đã bị bỏ qua như thu nhập từ tiền lãi do trì hoãn trả nợ, thu nhập từ nhặt được của rơi[5], thu nhập từ kiều hối. Về mặt lý luận, thuế TNCN phải được đánh trên toàn bộ thu nhập của cá nhân mới đảm bảo tính công bằng của chế độ thuế TNCN không thường xuyên. Về mặt thực tiễn, hiện nay có nhiều cá nhân có thu nhập cao từ những hoạt động này mà không bị đánh thuế nên gây lãng phí nguồn thu ngân sách.

Thứ hai, quy định pháp luật về cơ sở tính thuế không rõ ràng, gây lúng túng cơ quan thuế trong việc xác định số thuế phải nộp đối với những khoản thu không thường xuyên. Chẳng hạn như thu nhập từ đầu tư chứng khoán: Điểm 1 điều 13 Luật thuế TNCN quy định: “Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn”. Nhưng lại không đưa ra các khái niệm cụ thể về các loại chứng khoán. Theo thông lệ quốc tế và Luật Chứng khoán, thì chứng khoán bao gồm nhiều loại, tập trung lại phân chia thành hai nhóm chứng khoán: chứng khoán vốn và chứng khoán nợ. Chứng khoán vốn như cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, quyền mua cổ phiếu… Đây là những loại chứng khoán mang tính chất đầu tư lời ăn, lỗ chịu. Vốn thu được từ các đợt phát hành trở thành hoặc làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp. Chứng khoán nợ như các loại trái phiếu, trái phiếu trong thời kỳ chưa chuyển đổi…Đây là những loại chứng khoán được bảo đảm an toàn hơn so với chứng khoán vốn. Người đầu tư được nhận lãi trong thời kỳ phát hành. Doanh nghiệp sau khi phát hành chứng khoán nợ thì các khoản vốn này doanh nghiệp ghi nhận là các khoản nợ, không được hạch toán vào vốn chủ sở hữu. Việc phân định cụ thể từng nhóm chứng khoán khác nhau để xác định được cụ thể phương pháp tính thuế, phương pháp tổ chức thu thuế khác nhau. Đây là một thông lệ phổ biến của thế giới.[10, tr.25]

Những quy định không rõ ràng cũng gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định phương pháp tính giá mua, giá bán chứng khoán trong thị trường giao dịch cổ phiếu phi tập trung. Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 62/2009 TT-BTC ngày 27/3/2009 hướng dẫn sửa đổi Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008, hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 8/09/2008 thì “đối với chứng khoán chưa niêm yết là giá chuyển nhượng chứng khoán làm căn cứ để khấu trừ thuế được căn cứ theo giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp trên hợp đồng không ghi giá thì căn cứ để khấu trừ thuế là giá chuyển nhượng do người chuyển nhượng tự khai. Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán không ghi giá trên hợp đồng tự khai giá chuyển nhượng phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung kê khai. Trường hợp cơ quan thuế có căn cứ xác định giá ghi trên hợp đồng hoặc giá tự khai là không đúng thực tế thì cơ quan thuế được quyền ấn định giá chuyển nhượng để tính lại số thuế phải nộp đồng thời phạt về hành vi gian lận thuế theo quy định của Luật quản lý thuế”. Quy định này phải gắn liền với cơ chế kiểm tra giám sát hiệu quả nếu không tất yếu dẫn đến hệ quả là các cá nhân thoả thuận giá ghi trên hợp đồng thấp hơn giá thực tế gây thất thu thuế.

Trong khi tại thị trường phi tập trung, những chứng khoán vốn niêm yết tại thị trường tập trung (gồm sàn giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) đều dễ dàng xác định được giá mua, giá bán một cách cụ thể theo từng phiên, từng ngày giao dịch và cụ thể giá mua, giá bán của từng nhà đầu tư. Công ty chứng khoán đều có bản liệt kê các hoạt động giao dịch của từng nhà đầu tư, việc xác định được giá mua, giá bán cụ thể cho từng giao dịch, căn cứ vào các yếu tố: chứng khoán được giao dịch tập trung thì nhà đầu tư phải mở tài khoản tại công ty chứng khoán và phải giao dịch mua bán thông qua công ty chứng khoán. Còn tại thị trường phi tập trung thì không thể xác định được chính xác giá cả ở từng thời điểm; cơ quan thuế hay cơ quan quản lý thị trường không thể có công cụ để xác định được giá cả thị trường hay xác định được những giao dịch mua bán của các nhà đầu tư cá nhân với nhau, vì việc mua bán chứng khoán không cần phải thông qua công ty chứng khoán, không cần phải mở tài khoản tại công ty chứng khoán. Do vậy, cơ quan thuế sẽ khó mà xác định được giá mà người chuyển nhượng tự khai (thường là thấp hơn so với giá thực tế).

Mặt khác, quy định lấy hợp đồng mua bán giữa người mua, người bán chứng khoán để làm căn cứ xác định giá mua và giá bán thì sẽ không khả thi vì khi cơ sở tính thuế không rõ ràng, sẽ nảy sinh tâm lý lách luật từ một số cá nhân, và từ đó không bảo đảm tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế.

Bên cạnh đó, Luật thuế TNCN còn quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác định theo nguyên tắc: theo giá hợp đồng, nếu giá hợp đồng thấp hơn giá đất do UBND tỉnh quy định thì xác định theo giá đất của UBND tỉnh. Quy định như vậy tất yếu dẫn đến các bên tham gia hợp đồng chỉ ghi mức giá bằng với giá đất của UBND tỉnh đã công bố trong các lần chuyển nhượng và kết quả là nhà nước không thu được thuế.

Thứ ba, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên chưa tiên liệu được những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Bởi theo quy định luật thuế TNCN thì cá nhân bán nhà, đất thứ hai trở lên thuộc diện thuế TNCN còn cá nhân bán nhà đất duy nhất thì được miễn thuế TNCN. Nhưng nếu cá nhân đó bán cả hai căn nhà và có sự chênh lệch giá thì căn nhà nào được miễn thuế, căn nhà nào phải nộp thuế? Và nếu cá nhân bán cả hai căn nhà để mua một căn nhà khác thì sao? Cho tới nay, vấn đề này vẫn chưa có văn bản hướng dẫn. Mà hiện nay ở Việt Nam, một cá nhân sở hữu hai hay nhiều bất động sản là không hiếm. Điều này rất dễ khiến một số cá nhân nảy sinh tâm lý lách luật hoặc việc áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện từ chính cơ quan thuế.

Thứ tư, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên chưa thật sự công bằng. Bởi một số khoản thu không thường xuyên không được trừ đi các chi phí tạo ra thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế.

Một là, không công bằng giữa cá nhân cư trú và cá nhân cư trú. Đối với cá nhân cư trú thì các khoản thu nhập không thường xuyên không được khấu trừ đi chi phí tạo ra thu nhập là thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ thừa kế, quà tặng. Đối với cá nhân không cư trú thì các khoản thu nhập không thường xuyên như thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng không được khấu trừ các chi phí tạo ra thu nhập.

Ví dụ: Mục VI phần C Thông tư 84 quy định: “Thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng chuyển nhượng thương mại tại Việt Nam với thuế suất 5 %”.

Việc áp dụng một mức thuế suất mà không xem xét đến gia cảnh cụ thể của người nộp thuế, các khoản chi phí cần thiết để tạo ra nguồn thu nhập không thường xuyên nhiều hay ít đã hạn chế vai trò điều tiết và đảm bảo công bằng về thuế. Mặc dù việc xem xét để khấu trừ các chi phí tạo ra thu nhập không phải việc làm đơn giản.[8, tr.35]

Bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú đối với cùng một loại thu nhập không thường xuyên. Ví dụ: thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản thì thuế thu nhập đối với cá nhân không cư trú chỉ áp dụng trên giá chuyển nhượng, trong khi đối với cá nhân cư trú thì thuế thu nhập được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ giá vốn và các chi phí hợp lý.

Hai là, không bình đẳng giữa các khoản thu nhập thường xuyên và các khoản thu nhập không thường xuyên. Các khoản thu nhập không thường xuyên (trừ thu nhập từ chứng khoán) thực hiện thu thuế theo thuế suất khác nhau với thu nhập không thường xuyên và phải nộp sau khi chi trả thu nhập, cuối năm không quyết toán. Chính vì vậy, sự bất hợp lý xảy ra khi có khoản thu nhập của cá nhân xét về thời điểm nhận thu nhập là nhận một lần song tính chất của thu nhập đó là của nhiều thời gian trước, nhưng lại bị đánh thuế một lần. Ví dụ: Thu nhập về chuyển giao công nghệ xét về thời điểm nhận thu nhập là nhận một lần song tính chất của thu nhập đó là của nhiều thời gian trước.

Thứ năm, chế độ miễn thuế đối với một số khoản thu nhập không thường xuyên phức tạp. Để có thể được miễn thuế thu nhập, cá nhân nộp thuế phải qua một quá trình làm đơn, phải có xác định của các cơ quan có thẩm quyền. Những quy định về thủ tục miễn thuế như hiện nay là không phù hợp với chính sách cải cách thủ tục hành chính của Đảng và Nhà nước, đồng thời nó gây phiền hà cho cá nhân người nộp thuế là những đối tượng đang gặp khó khăn. Trong những trường hợp nhất định, chi phí bỏ ra để hoàn tất thủ tục có thể lớn hơn số thuế được miễn giảm. Mặc dù Thông tư 62/2009/TT-BTC đã có những quy định mới hợp lý hơn về thủ tục hành chính thuế nhưng vẫn còn rất rườm rà.

Thứ sáu, chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN nhìn chung hay vi phạm chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên chưa đủ mức răn đe. Quy định này còn quá chung chung và được dẫn chiếu rất ít trong các quy định hiện hành về thuế TNCN. Theo quy định, khi phát hiện cá nhân có hành vi trốn thuế, gian lận thuế, cơ quan thuế sẽ phạt hành chính theo điều 108 Luật quản lý thuế. Ngoài việc phải nộp đủ số tiền đã trốn thuế hay gian lận thuế, người vi phạm còn bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền trốn thuế, số tiền gian lận thuế. Ngoài ra, vi phạm pháp luật thuế TNCN còn có thể bị cưỡng chế thuế bằng cách khấu trừ vào tài khoản cá nhân ở ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhưng việc làm này chỉ có thể thực hiện khi cá nhân có tài khoản ở ngân hàng. Những quy định về chế tài còn lỏng lẻo, sẽ dẫn đến việc chủ thể nộp thuế đã coi thường nghĩa vụ thuế ,nhất là khi Thông tư 62/2009/TT-BTC đã thể hiện quan điểm của ngành thuế phải chịu trách nhiệm về tính chính xác trong việc kê khai thuế.

1.3. Những hạn chế khác trong việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên.

Phần lớn những bất cập trong việc áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên là do hạn chế của quy định pháp luật. Một số nguyên nhân khác xuất phát từ chính ý thức của đối tượng nộp thuế, trình độ cơ quan thuế còn yếu kém hoặc do thực tiễn áp dụng không theo đúng quy định pháp luật. Sau đây, là một số hạn chế cơ bản:

Một là, tình trạng không có khả năng kiểm soát tốt thu nhập không thường xuyên, dẫn đến có nhiều trường hợp trốn, lậu thuế. Một trong những nguyên nhân cơ bản là hiện nay nước ta chưa có hệ thống các quy định pháp lý cần thiết để minh bạch thu nhập. Với những cố gắng rất lớn của cơ quan lập pháp, Luật phòng, chống tham nhũng ngày 9/12/2005 đã ra đời và có hiệu lực ngày 01/6/2006, gần đây được cụ thể hoá bằng Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007. Những văn bản này đã tạo ra cơ sở pháp lý để một số chủ thể phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, góp phần kiểm soát thu nhập. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, các văn bản này nhằm kiểm soát và ngăn chặn những thu nhập không hợp pháp chứ không phải nhằm quản lý nguồn thu nhập hợp pháp để xác định nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, những chủ thể có nghĩa vụ kê khai hẹp, chỉ bao gồm những chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ đó có thể khẳng định, hệ thống những quy định nhằm quản lý thu nhập chịu thuế còn rất sơ sài.[8, tr.28]. Hiện nay, dự thảo Luật đăng ký bất động sản đang được hoàn chỉnh, sớm thực thi nhằm minh bạch hoá các giao dịch tài sản của cá nhân.

Hai là, tình trạng thất thu ngân sách do một số đối tượng sẽ tìm cách trốn, tránh thuế bằng cách chia nhỏ thu nhập chịu thuế để tránh thuế. Vì đối với những khoản thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ, quà tặng, khuyến mại, trúng thưởng xổ số và các trò chơi có thưởng thì chỉ bị đánh thuế đối với phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng mà việc đánh thuế những trường hợp này là đánh thuế từng lần.

Ví dụ: Chia nhỏ giá trị chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại, quà tặng thành nhiều phần, mỗi phần là một hợp đồng có giá trị thấp hơn 10 triệu đồng thì sẽ không bị đánh thuế.[8,tr.34]

Không những vậy, hiện tượng chuyển nhượng lòng vòng để tránh thuế đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản là khó tránh khỏi. Bởi theo điều 4 luật thuế TNCN thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con để, cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa mẹ chồng , cha chồng với con dâu; giữa bố vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội; giữa ông bà ngoại với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau được miễn thuế. Trong thực tế nhiều cá nhân đã lợi dụng quy định này để tránh thuế, làm giảm hình hiệu quả điều chỉnh pháp luật thuế TNCN.

Hơn nữa, thuế đánh vào lãi vốn có xu hướng trói buộc mọi người vào tài sản với nỗ lực trì hoãn trả thuế và có lẽ là, chịu trả thuế trong thời gian thường là với thu nhập thấp hoặc ở một thời hạn mức thuế trên lãi vốn bị giảm.[20].

Từ những ví dụ trên, ta thấy có thể một số đối tượng sẽ lợi dụng chính sách ưu đãi đối với một số khoản thu nhập để tránh thuế, trốn thuế gây thất thu ngân sách.

Ba là, tình trạng các cá nhân kinh doanh đi vay để sản xuất kinh doanh là khó tránh khỏi. Theo quy định của Luật thuế TNCN thì tiền lãi gửi các tổ chức tín dụng được tiếp tục miễn thuế. Trong khi đó, thu nhập chịu thuế từ kinh doanh lại được trừ chi phí trả lãi tiền vay, chưa thể hiện tính công bằng cho nhà đầu tư gián tiếp khi nhận lãi từ trái phiếu thì chịu thuế (trừ trái phiếu Chính phủ) trong khi nhận lãi từ việc gửi tiền từ tổ chức tín dụng thì được miễn thuế. Như vậy, cá nhân kinh doanh vừa được giảm trừ chi phí lãi vay (đầu vào) nhưng lại tiếp tục được miễn thuế thu nhập từ tiền lãi cho tổ chức tín dụng vay (đầu ra) tạo ra kẽ hở khuyến khích cá nhân kinh doanh tín dụng miễn thuế, vì khi đó, càng vay nhiều, càng lãi nhiều.

Ví dụ: Cá nhân kinh doanh đi vay 100 triệu đồng với lãi suất 20%/năm thì được đưa vào chi phí hợp lý toàn bộ số tiền 20 triệu. Nếu không đi vay thì khoảng thu nhập của số tiền 20 triệu này, sau khi nộp thuế TNCN (giả sử với thu nhập tính thuế là 960 triệu đồng/năm thì áp dụng thuế suất bậc 6 là 217,8 triệu, tỷ lệ thuế bình quân là 22,7%) còn lại 15,46 triệu. Nhưng nếu như họ rút vốn kinh doanh (giả sử cũng 100 triệu) của mình ra dể cho vay với lãi suất 17,5% (còn số tiền vay được đưa vào kinh doanh) thì họ nhận được tiền lãi 17,5 triệu đồng miễn thuế, nhiều hơn so với số tiền họ nhận được nếu không đi vay là 2.040.000 đồng. Như vậy, khi tỷ lệ bình quân thuế nói trên lớn hơn 12,5% (dựa trên tính toán: 100% – 17,5/20%) như ví dụ trên, nghĩa là khi có thu nhập tính thuế từ 264 triệu/năm trở lên thì trong mọi trường hợp, càng vay nhiều, càng lời nhiều. Điều này sẽ không khuyến khích nhà đầu tư bỏ vốn ra để kinh doanh. Đây chính là kẽ hở lớn của Luật thuế TNCN, trong khi đó, hầu hết các nước trên thế giới không miễn thuế trên tiền lãi cho vay ở đầu ra vì đã cho giảm trừ thuế của chi phí vay ở đầu vào rồi”[13].

Bốn là, cơ quan thuế còn lúng túng trong việc triển khai thực hiện luật thuế TNCN, đặc biệt là đối với những khoản thu không thường xuyên. Việc cấp mã số thuế cho các cá nhân nằm trong diện chịu thuế là khâu phức tạp và tốn rất nhiều thời gian nhưng các cơ quan thuế lại triển khai chậm trễ. Theo quy định pháp luật hiện hành, tất cả các cá nhân nằm trong diện nộp thuế TNCN cùng với những người thuộc diện giảm trừ gia cảnh (vợ, chồng, con cái, bố mẹ..) đều phải có mã số thuế riêng. Có khoảng 15 triệu người sẽ phải đăng ký cấp mã số thuế theo Luật thuế TNCN. Trong số này có khoảng 3,5 – 4 triệu người là các cá nhân đầu tư, chuyển nhượng vốn…còn lại là những người làm công ăn lương. Theo dự kiến, việc đăng ký cấp mã số thuế phải hoàn thành trước 31/12/2008. Nhưng cho đến đầu tháng 4/2009 việc cấp mã số thuế cho các cá nhân còn chưa được hoàn tất.

Năm là, công tác quản lý thuế đối với chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên còn nhiều bất cập. Để quản lý thuế TNCN hiệu quả thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải thiết lập cơ sở dữ liệu. Thuế TNCN là sắc thuế đặc thù, người nộp thuế TNCN có những khoản thu nhập không thường xuyên tại nhiều địa bàn khác nhau trong khi đó việc thiết lập cơ sở dữ liệu để quản lý mới ở giai đoạn manh nha. Mặt khác, việc phân cấp tổ chức cơ sở dữ liệu và ứng dụng CNTT như hiện nay (mô hình xử lý dữ liệu phân tán) không còn phù hợp. Không những vậy, nguồn nhân lực đáp ứng việc vận hành, quản lý và sử dụng thành thạo các ứng dụng tin học trong quản lý thuế hiện nay là cả một vấn đề lớn, người giỏi về tin học lại hạn chế trong các nghiệp vụ kế toán, thông kê và ngược lại. Hơn thế, việc giữ chân và thu hút được nhân lực giỏi về CNTT làm việc trong ngành thuế cũng đang là bài toán khó.

2. Những kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên

2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

a) Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc xây dựng chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên ở Việt Nam hiện nay.

Mỗi quốc gia tuỳ theo điều kiện lịch sử kinh tế – xã hội ở những giai đoạn cụ thể mà xây dựng Luật thuế TNCN của mình. Hệ thống thuế đó phản ánh những mục tiêu đặt ra của Nhà nước. Do đó, việc tìm ra những tiêu thức chung đánh giá một hệ thống thuế TNCN tốt hay không là công việc không phải dễ dàng. Song dù sao đi nữa, nếu gạt đi những nét đặc thù của mỗi quốc gia và căn cứ vào những đòi hỏi chung của một nền kinh tế thị trường cũng như những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế thì thuế TNCN nói chung hay chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải đáp ứng những yêu cầu sau:

Thứ nhất, chế độ thuế TNCN phải được quy định phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Pháp luật luôn thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. Nhà nước với chức năng và nhiệm vụ của mình luôn chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên nói riêng. Nghị quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định: “Áp dụng thuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”.[8,tr.31]. Như vậy, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên cần xác định phạm vi điều chỉnh rộng hơn nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong đánh thuế TNCN theo hướng mọi khoản thu nhập đều phải chịu thuế, đánh thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên sẽ không phân biệt cá nhân là người cư trú hay không cư trú.

Thứ hai, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải là công cụ hữu hiệu để Nhà nước tăng thu ngân sách, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “ Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỉ trọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỉ lệ thu từ thuế trực thu”. Ở các quốc gia phát triển, tỉ trọng thuế TNCN là khá cao, trong khi đó tại Việt Nam số thu này là không đáng kể. So với các sắc thuế gián thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì thuế TNCN đảm bảo công bằng tốt hơn, vì vậy, việc tăng nguồn thu từ thuế trực thu là yêu cầu hợp lý và cần thiết. Bên cạnh việc mở rộng đối tượng điều chỉnh, thuế TNCN cần bao quát được các nguồn thu không thường xuyên của cá nhân, cần xác định một mức thuế suất hợp lý để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, hạn chế các trường hợp miễn, giảm làm xói mòn các nguồn thu cho ngân sách nhưng đồng thời cũng không gây áp lực lên chủ thể nộp thuế. Bởi bất cứ sự thay đổi nào của các quy định pháp luật thuế thu nhập với những khoản thu không thường xuyên đều ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân sách nhà nước. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới, thì pháp luật thuế TNCN hay chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên càng trở thành công cụ quan trọng trong việc tạo lập nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để thay thế cho pháp luật thuế xuất nhập khẩu đang dần mất vị trí chủ đạo do phải thực hiện các cam kết cắt giảm thuế.

Tuy nhiên, thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải được xây dựng phù hợp với thực trạng kinh tế và khả năng đóng góp của người nộp thuế, tránh tình trạng tận thu.

Thứ ba, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải là công cụ để điều tiết nền kinh tế xã hội, nhưng phải đảm bảo yêu cầu bình đẳng, công bằng xã hội, đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, dễ kiểm tra, giám sát.

Khi nghiên cứu, xây dựng chế độ pháp lý thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên cần phải đảm bảo pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phát huy được vai trò tích cực trong việc điều tiết xã hội. Nhà nước thể hiện ý chí của mình đối với đường lối phát triển kinh tế xã hội. Bằng hệ thống pháp luật thuế thu nhập, Nhà nước thể hiện ý chí cua rmình đối với đường lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công bằng xã hội. Thông qua các quy định của thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên về đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn thuế, v.v..

Khi thực hiện chức năng điều tiết của mình, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên vẫn phải đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế. Về lý thuyết, pháp luật càng cá thể hoá nghĩa vụ nộp thuế bao nhiêu thì càng có thể đảm bảo công bằng bấy nhiêu. Tuy nhiên, vấn đề này có tính hai mặt, bên cạnh việc đảm bảo công bằng tốt hơn, việc cá thể hoá nghĩa vụ nộp thuế cũng có thể làm sai lệch bản chất công bằng. Công bằng là một đòi hỏi khách quan của bất kỳ một hệ thống thuế nào trên thế giới. Đặc biệt là thuế TNCN là một trong những công cụ phân phối mạnh nhất của Nhà nước dùng để phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội. Xét trong một chừng mực nhất định, công bằng trong phân phối thu nhập là một trong những đòn bẩy tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế bởi sự chênh lệch thái qua về mặt thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội sẽ tạo ra sự kìm hãm đối với sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải đảm bảo việc khấu trừ những chi phí hợp lý tạo ra thu nhập theo từng khoản thu nhập. Khấu trừ những khoản chi phí nào, mức khấu trừ bao nhiêu, phương thức khấu như thế nào là những vấn đề lớn được cân nhắc, tính toán kĩ trên cơ sở những số liệu điều tra cụ thể, chính xác, không nên thiết kế một cách áp đặt hoặc chung chung khó áp dụng. Để đảm bảo việc áp dụng được chính xác và thuận tiện, việc quy định các khoản chi phí được khấu trừ phải hết sức cụ thể, chính xác và minh bạch.

Pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện, dễ kiểm tra giám sát. Các khoản thu nhập không thường xuyên của cá nhân thì gồm nhiều loại thu nhập mà mỗi loại lại có sự điều chỉnh khác nhau nên thường phức tạp và khó hiểu. Điều này sẽ làm cho đối tượng nộp thuế khó tự giác chấp hành còn cơ quan thuế thì khó quản lý thu nộp. Đồng thời sự phức tạp, không minh bạch của chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên tạo cơ hội trốn và tránh thuế và làm tăng chi phí hành thu và chi phí tuân thủ luật thuế của các đối tượng nộp thuế. Theo đó, để đảm bảo được tính rõ ràng thì các từ ngữ được sử dụng phải dễ hiểu và mọi người có cách hiểu thống nhất…Có như thế các đối tượng nộp thuế mới biết được khoản thuế đó do ai chịu và mức thuế là bao nhiêu, trên cơ sở đó nghĩa vụ thuế mới được thực hiện một cách triệt để. Khi pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên đảm bảo được yêu cầu đơn giản, rõ ràng thì sẽ đảm bảo được tính dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát. Bởi khi đó, đối tượng nộp thuế sẽ hiểu biết và tuân thủ luật thuế triệt để hơn, từ đó các cơ quan có thẩm quyền quản lý, kiểm soát thuế cũng thuận tiện và hiệu quả hơn.[16]

Thứ tư, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đối tượng nộp thuế và có tính hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Một hệ thống pháp luật thuế nói chung trong cơ chế thị trường với quy luật tự do cạnh tranh đang chiếm ưu thế thì tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các đối tượng nộp thuế cần phải đựơc chú trọng hơn bao giờ hết. Để đề cao được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đối tượng nộp thuế đòi hỏi xây dựng theo hướng áp dụng cơ chế tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong trường hợp này đối tượng nộp thuế sẽ phải tự giác trong việc kê khai tính thuế, nộp thuế và thực hiện quyết toán thuế; tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính kịp thời và kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế của mình trước pháp luật chứ không trông chờ, ỷ lại vào cán bộ thu thuế.

Pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải được xây dựng theo hướng tính hiệu lực, hiệu quả quản lý, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế cũng như quy định về chế tài xử phạt các đối tượng cố ý trốn tránh, gian lận, chiếm đoạt tiền thuế. Có như vậy, thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên mới phát huy hết vai trò của mình.

Thứ năm, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải đáp ứng yêu cầu ổn định, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với các quy định pháp luật của thuế TNCN đối với những khoản thu thường xuyên. Để đáp ứng yêu cầu ổn định, đòi hỏi việc xây dựng chế độ pháp lý của thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên phải dựa trên những căn cứ khoa học vững chắc, có cơ sở thực tiễn, tiên liệu trước được các yêu cầu của thực tế. Ổn định về mặt pháp lý là ổn định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, miễn thu giúp cho công tác hoạch định chiến lược của cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các tổ chức kinh tế được thuận lợi và có căn cứ tin cậy. Từ đó, tính khả thi và hiệu quả cũng được đảm bảo.

Một yêu cầu quan trọng nữa là phải đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định pháp luật về những khoản thu không thường xuyên và các quy định pháp luật về những khoản thu thường xuyên nhằm tạo ra một luật thuế TNCN thống nhất. Không những đồng bộ trong cùng một hệ thống mà còn phải đồng bộ với hệ thống pháp luật khác như pháp luật quản lý thuế, pháp luật kinh doanh bất động sản, pháp luật chứng khoán,…

Thứ sáu, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên cần quy định phù hợp với thực trạng kinh tế xã hội. Hiện nay, mức thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam còn thấp nên việc quy định mức thuế suất cần dựa trên nguyên tắc đảm bảo khuyến khích lao động sản xuất, tạo thu nhập ổn định và làm giàu chính đáng. Do đó, mức thuế suất phải được quy định dựa trên nguyên tắc sau đây: Mức thuế suất phải đảm bảo, sau khi nộp thuế, người nộp thuế vẫn phải có được mức thu nhập không thấp hơn mức thu nhập bình quân chung.

Thứ bảy, phải đảm bảo nguyên tắc hội nhập quốc tế. Khi mà hội nhập đã trở thành một xu thế tất yếu thì yêu cầu về tính tương đồng ( tính hội nhập) đã trở thành xu hướng chung của các nước trên thế giới khi xây dựng luật thuế TNCN hay chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên. Nó phải thể hiện được tinh thần của các hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc chí ít cũng cần quy định các nguyên tắc áp dụng những hiệp định này trong việc xác định nghĩa vụ thuế của người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam hoặc thu nhập của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Việc đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo cơ sở thúc đẩy sự phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại và thu hút đầu tư nước ngoài.

b) Một số kiến nghị cụ thể đóng góp cho việc hoàn thiện chế độ thuế TNCN đối với những khoản thu nhập không thường xuyên.

- Đối với thu nhập từ đầu tư vốn:

+ Cần bổ sung đánh thuế với lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng. Bởi lẽ theo quy định pháp luật hiện hành thì chỉ đánh thuế vào lãi cho vay nhưng không đánh thuế vào tiền lãi gửi tại các tổ chức tín dụng mà về bản chất lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng cũng là lãi cho vay. Nếu không quy định như vậy thì chắc chắn việc đánh thuế với lãi cho vay sẽ không hiệu quả, vì người cá nhân sẽ thoả thuận sử dụng hình thức gửi tiền tại các tổ chức tín dụng. Không những thế, tình trạng các cá nhân kinh doanh đi vay để sản xuất kinh doanh là khó tránh khỏi (ta có thể tham khảo ví dụ ở [13])

+ Không nên quy định thu nhập từ lãi mua trái phiếu Chính phủ không thuộc diện thu nhập chịu thuế vì như vậy sẽ không công bằng với các hình thức đầu tư khác như mua trái phiếu công ty, kỳ phiếu ngân hàng…Bởi lẽ, Nhà nước trong mối quan hệ với những người nắm giữ trái phiếu cũng giống như những tổ chức phát hành khác, đây là quan hệ dân sự nên không thể có đặc quyền dành riêng cho Nhà nước. Thiết nghĩ, Nhà nước cần thu hút nguồn vốn thông qua uy tín và niềm tin từ nhà đầu tư, chứ không phải là tạo ra một vị thế cao hơn so với những tổ chức khác trong việc phát hành các công cụ vay nợ.[8, tr.33]

- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn thì luật cần phải tính tới trường hợp khi chuyển nhượng vốn bị lỗ. Bởi lẽ trong kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro, việc kinh doanh thua lỗ là khó tránh khỏi. Do vậy, nếu hoạt động chuyển nhượng vốn mà có lãi thì đánh thuế còn nếu lỗ thì cũng nên có những quy định để bảo vệ quyền lợi của người kinh doanh. Còn theo quy định hiện hành thì: đối với trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu hoặc nhận cổ phiếu thưởng: nếu giá thực tế chuyển nhượng cổ phiếu thấp hơn mệnh giá thì không phải nộp thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán. Chưa có quy định hợp lý mang tính chất ổn định hơn.

Ví dụ: ở Mỹ, trong một năm, một cá nhân có các hoạt động chuyển nhượng vốn có lãi và bị lỗ thì số lỗ đó được bù vào số lãi thu được khi tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn. Nếu số lỗ vượt quá số lãi trong năm, thì phần vượt này được coi là một khoản khấu trừ thuế đối với thu nhập thông thường khác khi tính thuế, nhưng không được quá 3.000 USD/ năm. Nếu sau khi khấu trừ mà số lỗ đó vẫn còn thì cá nhân được chuyển số lỗ đó sang năm tiếp theo.[9, tr.23]

+ Không nên quy định thuế suất 0,1% mỗi lần chuyển nhượng chứng khoán vì nhà đầu tư chứng khoán có thể kinh doanh thua lỗ nhưng họ vẫn quyết định bán chứng khoán. Do đó, quy định mức thuế cho mỗi lần chuyển nhượng là không phù hợp với bản chất của thuế TNCN căn cứ vào TNCN để đánh thuế. Chỉ nên đánh thuế vào thu nhập thực tế của cá nhân trên cơ sở doanh thu trừ đi chi phí. Phải bổ sung các quy định về chi phí liên quan khác như lãi suất vay ngân hàng để đầu tư, lạm phát … vào quy định về chi phí, đặc biệt là ở những nước có lạm phát và chi phí vốn vay cao như Việt Nam.

+ Mức thuế suất 20% đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán không hợp lý, không đảm bảo được sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư và không khuyên khích được các nhà đầu tư chứng khoán tham gia thị trường nên cần quy định một mức thuế suất hợp lý hơn. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới “định hình”, chưa phát triển, hoạt động theo những quy luật riêng có của mình, và hoạt động kinh doanh chứng khoán gắn với độ rủi ro lớn, thu lãi khó, nếu mức thuế cao sẽ không khuyến khích được nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia thị trường. Hiện nay, mới chỉ có khoảng 200.000 cá nhân tham gia đầu tư chứng khoán.[10, tr.27]. Vì vậy, mức thuế suất hợp lý sẽ đảm bảo cho thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển liên tục, bền vững, hệ thống doanh nghiệp dễ dàng huy động được vốn cổ phần từ công chúng đầu tư. Khi hệ thống doanh nghiệp dễ dàng thu hút được vốn trong công chúng, thì tiền thuế thu được từ khu vực doanh nghiệp sẽ tăng lên rất nhiều. Nếu áp đặt thuế cao đối với nhà đầu tư cá nhân thì thị trường chứng khoán sẽ rất khó phát triển, hệ thống doanh nghiệp khó thu hút vốn từ công chúng và các khoản thuế từ khu vực doanh nghiệp sẽ không tăng nhanh, đồng thời nếu đưa ra chính sách thuế không hợp lý có thể sẽ làm cho đông đảo nhà đầu tư cá nhân thua lỗ. Có thể tham khảo kinh nghiệm các nước, các vùng lãnh thổ trong khu vực như Hồngkong, Singapore, Thailan…hiện không áp dụng thuế đánh vào chuyển nhượng chứng khoán, còn Trung Quốc thì ở mức thuế rất thấp. Một số nước phát triển hơn Việt Nam còn có mức thuế thấp hơn rất nhiều để khuyến khích nhà đầu tư như Ấn Độ 10%, Hàn Quốc 11%, Italy 12.5%. Đồng tình với quan điểm này là hiệp hội kinh doanh chứng khoán (VASB), Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước cũng cho rằng chưa nên đánh thuế đối với thu nhập từ đầu tư chứng khoán.[24].

- Đối với những khoản thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ, quà tặng, khuyến mại, trúng thưởng xổ số và các trò chơi có thưởng, không nên quy định mức khởi điểm là 10 triệu đồng mới đánh thuế nhằm hạn chế tình trạng tránh thuế, do việc đánh thuế trong những trường hợp này là đánh thuế từng lần. Đồng thời, quy định như trên là không có cơ sở và không công bằng (tham khảo ví dụ ở [8,tr.34]).

- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở đưa vào diện thu nhập miễn thuế là không khả thi. Tính không khả thi ở chỗ không có chuẩn mực thế nào là “nhà ở”. Luật nhà ở 2005 có quy định: Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân (Điều 1). Rõ ràng là vẫn không có tiêu chuẩn cụ thể nào về tiêu chuẩn kĩ thuật để xác định một công trình là nhà ở hay không. Mặt khác, để xác minh một người chỉ có một đất ở, nhà ở thì sẽ buộc cơ quan nhà nướ phải điều tra, nếu trong phạm vi một tỉnh, thành phố thì không khó nhưng nếu ở khác tỉnh, thành phố khác nhau thì khá phức tạp, mất nhiều thời gian, tốn kém chi phí. Nếu quy định như vậy, vô hình chung sẽ dẫn đến việc người dân nhờ người khác đứng tên để lách thuế và điều này sẽ tạo ra các tranh chấp đất đai, nhà ở. Theo chúng tôi, thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở, tài sản gắn liền với đất duy nhất vẫn chịu thuế.[11, tr.29].

+ Việc xác định giá quyền sử dụng đất cần phải dựa vào nguyên tắc thị trường như đối với các bất động sản khác và Chính phủ cần có những quy định cụ thể hướng dẫn việc xác định giá chuyển nhượng trong trường hợp giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng thấp hơn giá phổ biến trên thị trường.[24, tr.30]

- Đối với thu nhập là quà tặng: Nên đánh thuế vào thu nhập từ kiều hối vì thu nhập này cũng là một loại quà tặng. Hiện nay, pháp luật chưa hề có định nghĩa về kiều hối, ngay cả trong Pháp lệnh ngoại hối 2005. Về bản chất, kiều hối là ngoại hối do người Việt Nam định cư, sinh sống ở nước ngoài gửi về cho thân nhân trong nước nên nó là một dạng quà tặng. Mặc dù chính sách của Nhà nước là khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài góp phần xây dựng quê hương nhưng sự bình đẳng trong nghĩa vụ thuế cũng rất cần được tôn trọng.[8, tr.33]

- Việc phân biệt đối tượng cư trú và không cư trú chỉ nên giới hạn trong việc xác định các thủ tục hành chính thuế, không nên phân biệt về nghĩa vụ thuế, vì sẽ không đảm bảo sự bình đẳng giữa đối tượng cư trú và không cư trú đối với cung một khoản thu nhập không thường xuyên. Do đó, trừ những quy định nhằm đảm bảo nghĩa vụ thuế đối với những khoản thu nhập phát sinh ở Việt Nam của người không cư trú cần phải bình đẳng với người cư trú. Bên cạnh đó, về kĩ thuật lập pháp, nếu việc đánh thuế đối với người cư trú và không cư trú là như nhau thì không cần phải quy định nhắc lại làm cho văn bản luật dài dòng, chỉ cần dẫn chiếu trong một điều luật là được.[8,tr.34]

- Cần quy định việc áp dụng các hiệp định tránh đánh thuế hai lần làm cơ sở đảm bảo quyền lợi đối với các đối tượng có thu nhập từ nhiều quốc gia, không nên quy định chung chung về việc áp dụng điều ước quốc tế như trong Điều 9 của Luật.

- Cần có quy định căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú. Đây cũng là bài toán khó nếu chúng ta chưa có cơ chế thực hiện quản lý đối tượng này. Chúng tôi được biết, việc quản lý trật tự hành chính của Bộ Công An về vấn đề hộ khẩu, hộ tịch cũng chỉ đưa ra con số được kiểm soát bởi sự khai báo, còn thực tiễn trên các địa bàn hiện nay là rất khó (ví dụ, hiện nay có một số người từ các địa phương khác nhau đang buôn bán bao nhiêu, hình thức buôn bán tinh vi mà hiện tại chúng ta chưa nắm được). Đây cũng là lời giải tiếp theo cho việc phải có một cơ chế pháp lý thật rõ ràng, minh bạch và tạo điều kiện cho việc thực thi các quy định về thuế TNCN.

- Cần bổ sung các quy định kiểm tra, kiểm soát các khoản thu nhập không thường xuyên. Có như vậy, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên mới phát huy hiệu quả. Công tác kiểm tra, kiểm soát là một khâu tất yếu trong việc thực hiện thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên.

- Quy định cụ thể các chế tài pháp lý đối với các đối tượng nộp thuế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thu thuế vi phạm các quy định của Luật. Qua đó, đối tượng nộp thuế mới nhận thức rõ được hậu quả pháp lý mà mình sẽ phải gánh chịu nếu vi phạm nghĩa vụ thuế. Từ đó, nâng cao trách nhiệm nộp thuế TNCN hơn.

2.2. Kiến nghị đảm bảo thực hiện

Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý thuế. Thực tế đã chứng minh, một hệ thống thuế tốt nhưng phương tiện tổ chức thực hiện kém thì sẽ không hiệu quả. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện thành công là pháp luật thu nhập phải có một cơ chế quản lý thuế phù hợp và hiệu quả. Để đạt được điều này thì công tác hành chính thuế cần phải được đổi mới theo hướng hiện đại hoá:

Một là, cần phải tiến hành quy trình thu thuế sao cho có thể áp dụng rộng rãi quy trình tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế. Muốn vậy, những quy định về thủ tục kê khai thuế nên đơn giản, dễ hiểu. Bên cạnh đó, cần xây dựng và phát triển bộ phận dịch vụ thuế cho các đối tượng nộp thuế.

Hai là, việc tổ chức bộ máy ngành thuế phải đảm bảo mục tiêu tinh giản, hiệu quả, có tính đến việc tận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý để bố trí đội ngũ phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao.

Ba là, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách trong điều kiện hội nhập quốc tế, vấn đề tổ chức và đào tạo nhân lực cần phải được tiến hành trên cơ sở những mục tiêu ngắn hạn, trung hạn, đồng hành với tiến trình cải cách hệ thống chính sách. Trong giai đoạn tới, mục tiêu của việc xây dựng đội ngũ nhân lực ngành thuế được đặt ra là phải giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ thuế, nắm vững những kiến thức kế toán, thành thạo về ký năng làm việc, kỹ năng quản lý, có trình độ tin học, phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề nghiệp. Để từng bước thực hiện được những mục tiêu trên cần chú trọng đào tạo một đội ngũ cán bộ tinh nhuệ, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn hoá sâu theo từng chức năng công việc phù hợp với mô hình quản lý thuế theo phương pháp tự tính, tự khai, tự nộp thuế.

Bốn là, cần tích cực triển khai dự án ứng dụng CNTT vào quản lý thuế. Hệ thống ứng dụng CNTT hiện hành của ngành thuế đang bị phân tán theo chức năng quản lý của từng đơn vị. Cấp Chi cục thuế quản lý các hộ, các doanh nghiệp nhỏ và tự quản lý toàn bộ dữ liệu, xử lý thông tin hằng ngày. Còn cấp cục Thuế quản lý các DN vừa, lớn và dữ liệu, thông tin cũng được Cục thuế lưu, xử lý phục vụ các tác nghiệp hằng ngày. Cấp Tổng cục Thuế không quản lý dữ liệu các đối tượng nộp thuế mà khi cần thì cơ quan cấp dưới sẽ chuyển thông tin tổng hợp mang tính chất thống kê, phục vụ công tác phân chỉ đạo. Trong khi đó, một cá nhân có thể có thu nhập tại nhiều địa bàn khác nhau, nên việc phân cấp tổ chức cơ sở dữ liệu và ứng dụng CNTT như hiện nay sẽ không phù hợp. Ngành thuế cần thay đổi mô hình kiến trúc ứng dụng CNTT, chuyển dần từ mô hình xử lý phân tán sang mô hình xử lý tập trung, theo đó, sẽ tập trung toàn bộ dữ liệu tại cấp trung ương, còn các cấp dưới sẽ thực hiện vai trò nhập dữ liệu.

Để thực hiện việc kê khai, tính toán thuế của cá nhân được chính xác, nhanh chóng và thuận tiện thì cơ quan thuế cần xây dựng công cụ hỗ trợ từ mức độ thấp như phần mềm mã vạch kê khai thuế, tiến tới xây dựng kê khai thuế trực tuyến với công cụ thực hiện chữ ký điện tử cấp riêng từng cá nhân muốn chọn phương thức kê khai trực tuyến.

Thứ hai, công tác tuyên truyền chính sách, định hướng cải cách thuế phải được tiến hành thường xuyên và có hệ thống đối với đối tượng nộp thuế và đối với toàn xã hội, nhằm nâng cao sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế và sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.

Chính sách thuế TNCN tác động trực tiếp tới thu nhập của người dân. Do đó, các cơ quan thuế phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giải thích để mọi người dân hiểu rõ về nghĩa vụ thuế của mình cũng như thấy được lợi ích của việc nộp thuế. Nếu làm tốt công tác này, chúng ta sẽ tiết kiệm tối đa chi phí hành thu đồng thời sẽ làm giảm đáng kể tình trạng trốn lậu thuế Có như thế, pháp luật thuế TNCN đối với những khoản thu không thường xuyên mới được thực thi hiệu quả và công tác cải cách hoàn thiện pháp luật thuế mới thành công và đi vào cuộc sống được.

Cần phải có các dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế để cung cấp nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện nhất cho người nộp thuế giao tiếp với cơ quan thuế qua “một cửa”, tiếp xúc với cơ quan thuế dễ dàng, không phải chờ đợi… tiết kiệm chi phí, tuân thủ cho người nộp thuế.

Tạo nhiều kênh liên lạc với người nộp thuế, với các đại lý thuế để lắng nghe ý kiến phản hồi từ phía khách hàng về sản phẩm dịch vụ của cơ quan thuế. Thông qua đó, cơ quan thuế đánh giá và cải tiến các sản phẩm dịch vụ để cung cấp các dịch vụ cho khách hàng hoàn hảo hơn.

Thứ ba, về triển khai thực hiện, cần tăng cường các thiết chế phối, kết hợp giữa công cụ quản lý ngân hàng (xoá bỏ việc thanh toán tiền mặt, chuyển sang sử dụng tài khoản), quy định chặt chẽ hơn việc nhận quà có giá trị; các quy tắc ứng xử theo tiêu chuẩn đạo đức của các cán bộ, công chức, viên chứ nhà nước; Bên cạnh đó, việc phát triển thị trường chứng khoán theo định hướng minh bạch, dễ quản lý, áp dụng công nghệ thông tin cho việc đăng ký và áp dụng thu thuế thông qua chứng từ điện tử cần triển khai sớm và đồng bộ. Đây là việc làm hay, có tác dụng giảm bớt tham nhũng, tiêu cự trong chi tiêu và giảm chi phí cho việc thu thuế; thuận lợi cho các đối tượng thu và nộp thuế. Triển khai ngay các dịch vụ công nghệ thông tin trên mạng nhằm phục vụ tốt nhu cầu và quản lý TNCN.

Thứ tư, cần tiến tới sử dụng tiền mặt trong các giao dịch kinh tế theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 291/2006/QĐ – TTg về việc phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam. Từ đó, hạn chế tình trạng “kinh tế ngầm” ở nước ta chiếm 15,6% nền kinh tế (theo số liệu của Ngân hàng thế giới) . Chỉ có trên cơ sở đó mới hạn chế được thất thu ngân sách nhà nước.

Thứ năm, cần gộp chung việc kê khai thuế đối với các khoản thu khác nhau trong cùng một Tờ khai thuế và sử dụng Tờ phụ lục có thể gắn thêm nhiều trang khi có phát sinh những khoản thu nhập cần kê khai chi tiết thêm, như vậy sẽ giảm bớt nhiều mẫu biểu kê khai riêng biệt nhằm giản tiện cho việc sử dụng những thông tin kê khai chung và đồng thời tổng hợp số liệu được nhanh chóng trong cùng một tờ kê khai thuế.

Cần mở mã số thuế cho cá nhân, kể cả những đối tượng không có thu nhập để quản lý (các nước trên thế giới đều có quy định mở mã thuế cá nhân đối với mọi công dân)

Thứ sáu, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Cụ thể như hợp tác, nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về pháp luật thuế TNCN, tranh thủ trợ giúp kỹ thuật của các tổ chức quốc tế, tiến hành đàm phán ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia khác nhằm hạn chế tình trạng đánh thuế trùng, thu hút đầu tư, đảm bảo công bằng cho đối tượng nộp thuế, nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước.

NGUỒN: HOÀNG THỊ HUẾ, “Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản thu nhập không thường xuyên”, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật, K30 ĐHLHN. Người hướng dẫn: ThS. Trần Vũ Hải

About these ads