ThS. TRẦN VŨ HẢI

I. BẢN CHẤT CỦA THUẾ VÀ PHÍ NHÀ NƯỚC

Bản chất của thuế là một vấn đề hết sức phức tạp, còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có lẽ chính vì lẽ đó mà không có định nghĩa về thuế trong các văn bản pháp luật của hầy hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Một cách đơn giản nhất, thuế được hiểu là khoản trích nộp bằng tiền mà các tổ chức, cá nhân phải đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhà nước. Mục đích cơ bản của thuế là:

(i) chia sẻ thu nhập của chủ thể nộp thuế với nhà nước để nhà nước thực hiện các chức năng của mình vì lợi ích của xã hội;

(ii) thiết lập công bằng theo hướng, người có thu nhập cao hơn phải có trách nhiệm thuế lớn hơn.

(iii) định hướng tiêu dùng xã hội thông qua việc đánh thuế vào những tài sản đặc thù.

Thuế là khoản thu mà chủ thể nộp thuế có nghĩa vụ phải đóng góp cho quỹ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật thuế. Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, khái niệm thuế được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những khoản thu được định danh là thuế do Quốc hội ban hành.

Theo Giáo trình Thuế Việt Nam (Đại học Luật Hà Nội, 2007), thuế là khoản thu có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thuế mang tính quyền lực nhà nước và là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, thuế phải do Quốc hội ban hành dưới hình thức đạo luật. Đối với một số loại thuế đang trong quá trình hoàn thiện về mặt lập pháp, Quốc hội uỷ quyền cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành dưới hình thức Pháp lệnh.

- Thuế không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp. Có nghĩa là, chủ thể nộp thuế không được nhà nước cam kết hoàn trả dưới bất kỳ hình thức gì và những lợi ích mà chủ thể nộp thuế được nhận từ nhà nước cũng không so sánh về mặt giá trị với số tiền nộp thuế.

- Bên cạnh những đặc điểm trên, thuế còn có tính chất không đối khoản. Nghĩa là, số tiền thu được từ thuế sẽ được nhà nước chi dùng cho nhiều mục tiêu khác nhau, và việc định ra một loại thuế không nhằm đáp ứng một khoản chi cụ thể của nhà nước. (Michel Bouvier, Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế, NXB Chính trị quốc gia, 2005).

Xét về khía cạnh vĩ mô, thuế là một khoản thu quan trọng của Ngân sách nhà nước (và ngược lại, những khoản thu quan trọng sẽ được xem xét để định danh thành một loại thuế, tất nhiên là phải dựa vào những lý do thu thuế và thời điểm hợp lý để đánh thuế). Mặc dù không có định nghĩa chung, nhưng thuế lại khá cụ thể thông qua từng loại thuế riêng biệt như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế môn bài, v.v..

Trong khi đó, khái niệm phí nhà nước được đưa ra trong Pháp lệnh Phí và lệ phí, theo đó: phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ theo quy định trong danh mục phí được ban hành kèm theo Pháp lệnh. Hiện hành, có 73 loại phí khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông, tư pháp, tài chính ngân hàng, v.v..

Như vậy, khác với thuế, cơ sở để thu phí là việc chủ thể được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi ích nhất định thông qua dịch vụ của mình. Ví dụ: hưởng lợi từ dịch vụ thuỷ nông thì phải nộp thuỷ lợi phí, hưởng lợi từ việc sử dụng cây cầu để qua sông thì phải nộp phí cầu, v.v..

Để làm rõ sự khác biệt giữa thuế và phí, có thể tham khảo bảng sau đây:

Tiêu chí

Thuế

Phí

Lý do thu - Tạo nguồn thu ngân sách

- Thiết lập công bằng xã hội

- Định hướng tiêu dùng

Đã cung cấp dịch vụ, nên cần thu hồi vốn đầu tư và chi phí quản lý
Tầm quan trọng Thuế có tầm quan trọng cao hơn phí Phí có tầm quan trọng thấp hơn
Chủ thể ban hành Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước khác theo thẩm quyền
Tính lợi ích Không liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp Liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp
Tính ổn định Có tính ổn định cao, ít thay đổi Tính ổn định thấp hơn, có thể thay đổi nhanh chóng
Mức độ liên quan đến quy mô đối tượng Mức độ liên quan đến quy mô đối tượng thấp hơn Hầu như liên quan trực tiếp đến quy mô sử dụng dịch vụ
Chủ thể có quyền  thu Chỉ có nhà nước mới có quyền thu thuế Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc được uỷ quyền

II. VẤN ĐỀ THU PHÍ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN

Hiện nay, theo cách tiếp cận của dự thảo Luật tần số vô tuyến điện, thì tần số vô tuyến điện được coi là một dạng tài nguyên (tương tự như tài nguyên internet), tức là nguồn tài sản chung của nhân dân do nhà nước quản lý. Mặc dù vậy, đây là những tài nguyên nhân tạo, là kết quả của sự phát triển khoa học kỹ thuật chứ không phải tài nguyên thiên nhiên theo nghĩa thông thường. Cách tiếp cận này là đúng đắn và phù hợp với các tiếp cận của hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới.

Trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật tần số vô tuyến điện, cho đến nay vẫn tồn tại hai quan điểm về khoản tiền mà chủ thể sử dụng tần số vô tuyến điện phải nộp. Quan điểm thứ nhất cho rằng cần phải nộp thuế tài nguyên, còn quan điểm thứ hai lại cho rằng, việc thu phí là phù hợp (xem thêm Báo cáo về Dự án Luật tần số vô tuyến điện, số 8709/BC-VPCP ngày 20/12/2008).

Cũng theo báo cáo của ban soạn thảo thì hầu hết các quốc gia đang áp dụng biện pháp thu phí tần số thay vì thu thuế để nhằm trang trải cho các hoạt động quản lý tần số, kiểm soát và hợp tác quốc tế.

Từ việc nhận biết sự khác biệt về bản chất giữa thuế và phí, cũng như tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, có thể nhận thấy, việc áp dụng phí tần số vô tuyến điện hợp lý hơn rất nhiều so với việc áp dụng thuế vô tuyến điện vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, xem xét bản chất nghĩa vụ tài chính mà chủ thể sử dụng tần số vô tuyến điện phải trả thì thấy có hai phần tương đối riêng biệt: trả tiền đối với phổ tần số được chiếm dụng và trả tiền đối với công tác quản lý phổ tần số đó. Đối với việc chiếm dụng phổ tần số, có thể trả thuế hoặc trả phí đều được. Nhưng đối với công tác quản lý, việc trả phí là phù hợp. Có thể thấy rằng, tần số vô tuyến điện không như các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hình, nên việc sử dụng luôn gắn mật thiết với công tác quản lý, không thể tách rời. Chính vì vậy, việc thu phí hợp lý hơn so với thu thuế.

Thứ hai, nghĩa vụ tài chính đối với việc sử dụng tần số vô tuyến điện liên quan trực tiếp đến lợi ích của chủ thể sử dụng nên chủ thể sử dụng phải có nghĩa vụ đóng góp tài chính để duy trì lợi ích trực tiếp ấy.

Thứ ba, nghĩa vụ tài chính đối với việc sử dụng tần số vô tuyến điện liên quan đến quy mô sử dụng tần số. Quy mô được thể hiện như dải tần, phạm vi phủ sóng, mật độ kênh… Quy mô càng lớn thì đương nhiên, mức thu sẽ càng cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với khoản thu là phí.

Thứ tư, đảm bảo sự linh hoạt của mức phí đối với sự thay đổi của nền kinh tế và đảm bảo hiệu quả thu ngân sách. Phí sẽ do cơ quan hành pháp (mà cụ thể là liên Bộ gồm Bộ Tài chính và Bộ Thông tin & Truyền thông phối hợp quy định). Còn nếu là thuế, thì phải do Quốc hội quy định và sẽ kém linh hoạt rất nhiều.

Thứ năm, đảm bảo công tác xã hội hoá việc thu và sử dụng phí. Việc quản lý tần số và thu phí có thể chuyển giao cho các tổ chức không phải nhà nước thực hiện trên cơ sở đảm bảo hiệu quả và an toàn.

III. VỀ VIỆC BÙ ĐẮP CHI PHÍ QUẢN LÝ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN

Theo Điều 31 của dự thảo Luật Tần số vô tuyến điện thì “Một phần phí sử dụng tần số vô tuyến điện được dùng để bù đắp những chi phí cho công tác quản lý tần số vô tuyến điện”. Quy định như vậy là chưa hợp lý bởi một số điểm sau đây:

Thứ nhất, về nguyên tắc, theo Luật Ngân sách nhà nước, mọi khoản thu đều phải tập trung vào Quỹ ngân sách nhà nước và mọi khoản chi đều xuất phát từ Quỹ ngân sách nhà nước. Theo điều 6 Luật NSNN năm 2002: “Các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ”, từ đó cho thấy quy định “để lại” là không rõ ràng. Nếu thấy cần thiết phải gắn số thu phí tần số vô tuyến điện với thu nhập của đơn vị quản lý, thì có thể thực hiện giải pháp khoán theo cơ chế tự chủ tài chính, không nhất thiết phải quy định trong luật.

Thứ hai, việc quản lý nhà nước trong một số giai đoạn có thể cần đến nguồn kinh phí nhiều hơn so với số thu từ phí tần số, nếu vậy, số thu để lại sẽ không đủ để trang trải chi phí thì quy định của Luật sẽ không có ý nghĩa gì nhiều.

(Bài gửi Viên Nghiên cứu lập pháp để góp ý cho dự thảo Luật tần số vô tuyến điện)

About these ads