TRẦN ĐỨC NAM

Nhằm đối phó với tình trạng ”đẩy lỗ” vào cuối năm của các doanh nghiệp, dự thảo Thông tư hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK do Ủy ban Chứng khoán công bố đã đưa ra quy định báo cáo tài chính quý của các công ty niêm yết phải được soát xét bởi kiểm toán viên, đồng thời báo cáo của kiểm toán viên phải được công bố cùng với báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Mục đích của quy định này rất rõ ràng: nâng cao chất lượng thông tin cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, liệu quy định này có thực sự mang lại hiệu quả mong muốn hay không thì chưa thể khẳng định. Bài viết này sẽ phân tích một số điểm cần cân nhắc kỹ trước khi đưa quy định soát xét báo cáo tài chính quý vào thực hiện.

Chế độ kế toán chỉ là điều kiện cần

Phản ứng của UBCKNN cho thấy dường như chúng ta đang quá chú trọng đến các vấn đề kỹ thuật kế toán và báo cáo tài chính, trong khi đó không thực sự là mấu chốt của vấn đề. Một hệ thống chế độ kế toán chất lượng cao chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để bảo đảm một môi trường thông tin minh bạch. Các nghiên cứu kế toán trên phạm vi quốc tế cho thấy một chế độ kế toán chất lượng cao (ví dụ như chuấn mực kế toán quốc tế) sẽ chỉ phát huy tác dụng khi áp dụng ở một quốc gia với hạ tầng pháp lý đủ mạnh để bảo đảm việc thực thi hệ thống kế toán đó. Ngược lại, nếu hạ tầng pháp lý yếu kém thì hệ thống kế toán chất lượng cao không đủ để tạo ra sự khác biệt.

Người viết cho rằng các chuẩn mực kế toán hiện hành của Việt Nam cũng như các quy định về công bố thông tin tài chính trên TTCK là khá rõ ràng và đầy đủ (so với điều kiện thị trường tại Việt Nam). Vấn đề của Việt Nam hiện này không phải là thiếu các quy định cụ thể, mà là không có chế tài đủ mạnh để bảo đảm các quy định được thực thi. Theo quy định hiện hành (Nghị định 36 ngày 8/3/2007), mức phạt tối đa cho các vi phạm về công bố thông tin chỉ là 50 triệu đồng, một con số quá nhỏ so với những lợi ích (bất hợp pháp) mà các nhà quản lý có thể kiếm được thông qua việc bóp méo thông tin tài chính. Không chỉ quá nhẹ, các hình phạt cũng thường nhằm không đúng đối tượng. Thay vì áp dụng hình phạt với các cá nhân có hành vi gian lận, thì các cơ quan quản lý lại phạt doanh nghiệp. Như vậy, vô hình chung các cổ đông vừa bị lừa lại vừa phải nộp tiền phạt thay cho người đã lừa mình. Bởi chế tài quá nhẹ, không đủ sức răn đe nên nhiều nhà quản lý đã không ngần ngại bóp méo thông tin tài chính. Do đó, nếu chúng ta không cải thiệt chất lượng thi hành luật, thì việc đưa ra thêm các quy định mới sẽ khó mang lại hiệu quả mong muốn.

Soát xét báo cáo quý – liệu lợi có bất cập hại?

Lợi ích của việc thực hiện soát xét báo cáo tài chính quý là chưa rõ ràng, nhưng thiệt hại thì lại rất dễ thấy.

Thiệt hại rõ ràng nhất là các doanh nghiệp sẽ phải tốn thêm một khoản phí đáng kể để thuê kiểm toán làm công việc soát xét báo cáo quý. Đương nhiên khoản phí đó sẽ do các cổ đông chịu. Ngoài ra, khoản thiệt hại gián tiếp còn có thể lớn hơn nhiều. Với việc báo cáo tài chính bị soát xét hằng quý, các nhà quản lý sẽ có ít cơ hội sử dụng các kỹ thuật kế toán để phù phép báo cáo tài chính hơn. Thay vào đó, nhằm báo cáo số liệu đẹp, họ có thể sẽ phải tìm cách thiết kế các giao dịch thực để phù phép báo cáo tài chính. Một số giao dịch thường dùng để phù phép lợi nhuận bao gồm: thay đổi chính sách bán chịu, cắt giảm chi phí hữu ích, sản xuất vượt công suất tối ưu, trì hoãn việc bán các khoản đầu tư lỗ, bán tháo các khoản đầu tư có lợi nhuận cao. Còn nhớ cuối năm 2008, để có số liệu lợi nhuận đẹp, nhiều ngân hàng Việt Nam đã dùng thủ thuật bán rồi mua lại trái phiếu để hiện thực hóa khoản lợi nhuận chưa thực hiện từ các trái phiếu. Đặc điểm của việc phù phép lợi nhuận thông qua các giao dịch thực là chúng cho phép các nhà quản lý qua mặt kiểm toán viên (vì doanh nghiệp không vi phạm các chuẩn mực kế toán). Nhưng mặt trái của hành vi này là nguồn lực của doanh nghiệp bị tiêu tốn vào những giao dịch vô ích, gây lãng phí. Phần thiệt thòi cuối cùng lại thuộc về các cổ đông.

Mặc dù mục đích của quy định này là nhằm nâng cao chất lượng thông tin cho nhà đầu tư, nhưng rất có thể nó sẽ gây ra tác động ngược – chất lượng thông tin sẽ giảm sút. Một trong những lý do khiến nhiều doanh nghiệp chậm nộp báo cáo tài chính năm là do họ phải chờ kết quả kiểm toán. Điều tương tự có thể sẽ xảy ra với báo cáo tài chính quý nếu chúng phải được kiểm toán viên soát xét trước khi công bố. Kết quả là, mặc dù độ tin cậy của báo cáo quý có thể cao hơn nhờ việc soát xét của kiểm toán viên, nhưng tính kịp thời của thông tin sẽ bị giảm đi. Nếu doanh nghiệp trì hoãn công bố báo cáo quá lâu, thông tin dù rất chính xác có thể sẽ trở nên vô giá trị vì đã quá lạc hậu.

Một điểm đặc thù nữa của thị trường chứng khoán Việt Nam là sự tham gia của một số lớn các nhà đầu tư không chuyên nghiệp. Các nhà đầu tư này thường không hiểu vai trò của báo cáo kiểm toán, mà có suy nghĩ rằng báo cáo tài chính đã được kiểm toán là không còn sai sót nữa. Điều này có thể khiến cho quy định soát xét báo cáo tài chính quý phản tác dụng. Trước đây khi chưa có kiểm toán báo cáo quý, nhà đầu tư có thể không đánh giá cao độ tin cậy của số liệu trong báo cáo quý, nên họ dựa ít hơn vào các thông tin từ báo cáo quý khi ra quyết định đầu tư. Do đó nếu có bị lừa thì thiệt hại cũng ít hơn. Nay do có soát xét báo cáo quý, nên các nhà đầu tư này có thể có tâm lý yên tâm rằng số liệu không còn sai sót nữa, nên họ dựa nhiều hơn vào số liệu báo cáo quý mà không biết rằng hiệu lực của soát xét thấp hơn nhiều so với kiểm toán báo cáo tài chính. Kết quả là thiệt hại do thông tin không minh bạch có thể còn lớn hơn khi không có soát xét báo cáo quý.

Xét trên bình diện toàn xã hội, quy định quá chặt chẽ về việc soát xét báo cáo quý có thể sẽ khiến nhiều doanh nghiệp đang có ý định niêm yết phải từ bỏ ý định này, bởi chi phí cho việc niêm yết sẽ cao hơn so với lợi ích. Đây cũng chính là vấn đề mà các thị trường chứng khoán tại Mỹ vấp phải khi Ủy ban chứng khoán Mỹ thắt chặt các quy định về công bố thông tin sau khi xảy ra các vụ bê bối tài chính năm 2001.

Giải pháp dung hòa

Người viết ủng hộ việc tăng cường kiểm soát thông tin cung cấp bởi doanh nghiệp. Tuy nhiên, cân nhắc giữa chi phí và lợi ích, người viết cho rằng việc yêu cầu soát xét báo cáo tài chính hằng quý có thể không mang lại hiệu quả kinh tế (nhất là trong điều kiện số lượng cũng như chất lượng kiểm toán viên chưa đáp ứng được nhu cầu như hiện nay). Nên chăng UBCKNN yêu cầu báo cáo tài chính quý được soát xét bởi kiểm toán viên, nhưng việc soát xét này được thực hiện một lần vào cuối năm cùng với thời điểm kiểm toán báo cáo tài chính. Mặc dù việc soát xét được thực hiện vào cuối năm, nhưng nếu kiểm toán viên phát hiện thấy doanh nghiệp có hành vi gian lận trong báo cáo quý, thì sẽ vẫn có chế tài để xử lý nghiêm các hành vi này. Nếu có chế tài đủ mạnh, các nhà quản lý sẽ ý thức rõ hơn về hậu quả việc làm của mình và sẽ hạn chế hành vi gian lận báo cáo tài chính các quý. Đồng thời, việc soát xét một lần vào cuối năm sẽ giúp giảm đáng kể chi phí cho doanh nghiệp.

NGUỒN: Báo Nhịp cầu Đầu tư số 122 ngày 16-22/3/2009

http://www.kiemtoan.com.vn

About these ads