PGS,TS.NGUYÊN ĐÌNH TỰ

1. VỀ TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI

1.1- Diễn biến và nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, bùng nổ từ ngày 15/9 đã leo thang và lan rộng, trở thành khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu. Cho đến nay, Mỹ và châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề nhất; riêng Mỹ, IMF đã nâng mức dự báo về những thiệt hại do cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ gây ra lên đến 1.400 tỷ USD. IMF cũng cảnh báo sự suy giảm kinh tế thế giới trở nên trầm trọng hơn và hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008 – 2009; một số nước khác có thị trường vốn liên thông với Mỹ và châu Âu chịu ảnh hưởng trực tiếp; thị trường tài chính các nước châu Á và Nam Mỹ cũng bị ảnh hưởng nhưng mức độ chưa lớn.

Tính cho đến nay, có 14 ngân hàng, công ty bảo hiểm lớn ở Mỹ và châu Âu bị buộc phải phá sản, bị quốc hữu hoá hoặc bị các ngân hàng khác mua lại: Ngân hàng Lehman Brothers phá sản; các ngân hàng Bear Stearns, Merrill Lynch, Wachovia, Washington Mutual bị bán cho các ngân hàng khác; công ty bảo hiểm AIG của Mỹ, các ngân hàng Northern Rocks, Bradford&Bingley của Anh, ngân hàng Fortis, Dexia của Bỉ,… bị quốc hữu hoá hoặc nhận các khoản hỗ trợ tài chính từ Chính phủ các nước.

Một số tổ chức tài chính và nhiều nhà kinh tế dự đoán Mỹ, EU, Nhật Bản sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề hơn trong năm 2009. TS. Jong-Wha-Lee, Giám đốc văn phòng hội nhập kinh tế khu vực (OREI) của ADB nói: “Năm 2009 sẽ là một năm khó khăn đối với các nước đang phát triển ở châu Á. Tuy nhiên, điều này có thể vượt qua được nếu các nước đồng lòng đối phó với tình hình này một cách quyết liệt”.

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã được đánh giá là do các nguyên nhân: (i) FED thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng” trong nhiều năm trước đây, lãi suất cho vay thấp đã thúc đẩy mở rộng cho vay mua bất động sản, đối với cả khách hàng không đủ điều kiện vay vốn; (ii) Thị trường tài chính, tín dụng ở Mỹ và châu Âu phát triển theo hướng tự do hoá nhưng thiếu lành mạnh; cho phép các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ; mở cửa tự do cho mọi loại công cụ tài chính mới xuất hiện, nhưng không có sự kiểm soát chặt chẽ; (iii) Lòng tin của các nhà đầu tư bị suy giảm đối với khả năng thanh toán của các ngân hàng và sự suy giảm mạnh của kinh tế Mỹ, châu Âu và thế giới đã kéo theo tình trạng bán tháo chứng khoán, hạn chế cho vay trên thị trường, tác động lan truyền và càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.

1.2- Các biện pháp can thiệp thị trường, giải cứu ngân hàng của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước và các tổ chức tài chính quốc tế

- Chính phủ các nước G7 và G20 đều tuyên bố sẽ sử dụng tất cả các biện pháp để ổn định thị trường tài chính – tiền tệ, bảo đảm thanh toán tiền gửi tiết kiệm của người dân, tiến hành quốc hữu hoá các ngân hàng có nguy cơ phá sản, cung cấp vốn vay không giới hạn bằng USD cho các ngân hàng. Bên cạnh đó, IMF tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ cho các thành viên trong trường hợp cần thiết, với nguồn vốn khoảng 200 tỷ USD.

- Chính phủ Mỹ đã triển khai kế hoạch giải cứu thị trường trị giá 700 tỷ USD, Chính phủ các nước EU tuyên bố đưa ra các kế hoạch tổng cộng khoảng 3.000 tỷ USD và giải cứu thị trường bằng biện pháp mua lại nợ xấu, cơ cấu lại tài sản của các ngân hàng. Hiện nay Chính phủ Mỹ cũng đang bàn biện pháp hỗ trợ ngành sản xuất ô tô trong nước để tránh bị phá sản với 14 tỷ USD.

- FED thực hiện trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc cho các ngân hàng để tăng tiền dự trữ bắt buộc của các ngân hàng tại FED, có nguồn cho vay các ngân hàng khác. FED cũng thực hiện bảo lãnh các ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng để ổn định thị trường tiền tệ trong điều kiện các ngân hàng không thực hiện cho vay lẫn nhau do lo ngại rủi ro mất vốn.

- NHTW nhiều nước bơm thêm các khoản tiền lớn nhằm tăng thanh khoản cho thị trường: các NHTW đã đưa ra thị trường khoảng 2.200 tỷ USD, NHTW các nước phát triển cũng tuyên bố sẽ cung ứng tiền không có giới hạn, phối hợp điều chỉnh giảm lãi suất chủ đạo để tác động trực tiếp làm giảm lãi suất thị trường nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế: FED giảm từ 2%/năm xuống 1,5%/năm, ECB giảm từ 4,25%/năm xuống 3,75%, BOE giảm từ 5%/năm xuống 4,5%/năm.

Do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó một số nước bị ảnh hưởng khá nặng nề. Trung Quốc đã dành hơn 1.000 tỷ USD để kích thích nền kinh tế…, Liên minh châu Âu đang phải gồng mình chống lại những ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đang tác động tới khu vực này và đã có rất nhiều cuộc họp cấp Bộ trưởng và Thượng đỉnh để tìm giải pháp cứu nguy các nền kinh tế đang bị đe dọa. Tại cuộc họp thượng đỉnh liên minh châu Âu (EU) tại Brusel (Bỉ) diễn ra trong 2 ngày 11 và 12/12/2008 vừa qua kết thúc với một thoả thuận bước đầu về kế hoạch thúc đẩy kinh tế trị giá 264,3 tỷ USD, tương đương 1,5% GDP nhằm khôi phục nhanh chóng nền kinh tế, tăng trưởng và tạo việc làm.

2. TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

2.1- Đối với nền kinh tế Việt Nam

Do vị thế đặc biệt của Mỹ là trung tâm tài chính lớn nhất của thế giới, là nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam hiện nay, chiếm tới 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam, cũng là nơi có lượng Việt kiều đông nhất trên thế giới, nên xét về mặt tổng thể, khủng hoảng tài chính Mỹ cũng ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam, bởi lẽ:

Thứ nhất, về xuất khẩu, tính chung 11 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 58,5 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm trước nhưng chủ yếu là do tăng giá. Những tháng cuối năm 2008, xuất khẩu sẽ bị giảm sút do các nước Mỹ, EU, Asean, Úc,… bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính cũng sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu của năm 2009 và do đó nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam cũng sẽ bị suy giảm.

Thứ hai, cuộc khủng hoảng có thể làm giảm sút mạnh nguồn kiều hối từ Mỹ và cả từ các nước khác có chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng này do phần đông Việt kiều sinh sống ở Mỹ, EU bị giảm thu nhập.

Thứ ba, đối với thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nguồn tín dụng trên thị trường tài chính quốc tế bị thu hẹp do các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn về tài chính và cả sự thận trọng hơn khi đưa ra những quyết định đầu tư. Điều này làm cho hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam không phải ngoại lệ.

Thứ tư, giá xăng dầu, các nguyên vật liệu đầu vào và hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu có xu hướng giảm, sẽ tác động giảm lạm phát, nhưng bất lợi là giảm kim ngạch xuất khẩu và tăng thâm hụt thương mại do giảm cả khối lượng và giá.

Thứ năm, cuộc khủng hoảng tài chính còn gây ra tác động khác đến khu vực thị trường chứng khoán (TTCK) ở 3 khía cạnh:

Một là, gây tâm lý lo ngại chung và sự trầm lặng, thận trọng hơn trong việc ra quyết định của các nhà đầu tư;

Hai là, có thể làm giảm lượng vốn nước ngoài đổ vào TTCK do các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn về nguồn vốn;

Ba là, có thể khiến các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên TTCK gặp khó khăn trong kinh doanh, từ đó làm giảm sút lợi nhuận, kéo theo giảm sút thị giá chứng khoán của mình, tức giảm bớt sức hấp dẫn chung của TTCK với các nhà đầu tư.

2.2- Đối với thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Nhìn nhận từ góc độ kinh tế vĩ mô hiện nay, nền kinh tế vẫn duy trì đà tăng trưởng, lạm phát có xu hướng giảm rõ rệt, nhập siêu giảm, dự trữ ngoại hối Nhà nước ở mức khá cao, cán cân thanh toán thặng dư, thu ngân sách tăng lên, tiềm lực phát triển kinh tế ở thị trường nội địa khá lớn, môi trường đầu tư thuận lợi, chính trị – xã hội ổn định; chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng được điều hành linh hoạt, các ngân hàng thương mại (NHTM) có khả năng đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh, lòng tin của người dân đối với VND đã tăng lên. Mặt khác, thị trường tài chính và mức độ liên kết của các ngân hàng trong nước với hệ thống tài chính quốc tế còn hạn chế, cho nên thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nước chịu ít tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính hoặc có tác động gián tiếp ở mức độ không lớn. Nhìn chung, thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nước đang diễn biến theo chiều hướng ổn định, bảo đảm an toàn thanh toán.

3. CÁC BIỆN PHÁP CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC GÓP PHẦN GIẢM TÁC ĐỘNG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ SUY GIẢM KINH TẾ

Theo nhận định chung thì năm 2009 sẽ vẫn là một năm khó khăn đối với kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ tiếp tục lan rộng, không chỉ đối với một vài quốc gia, cả đối với những quốc gia đã phát triển và đang phát triển; Sự sụt giảm kinh tế và những khó khăn trong việc quản lý nợ xấu. Kinh tế thế giới đang phải đối mặt với áp lực giảm phát lớn và phải trải qua thời kỳ lạm phát tiền tệ…

Chính phủ Việt Nam đã bàn và đưa ra các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, trong đó nhấn mạnh nhóm giải pháp về thúc đẩy sản xuất kinh doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư và tiêu dùng; chính sách tài chính và tín dụng bằng Nghị quyết số 30/NQ30/NQ-CP ngày 16/12/2008.

Được xác định là ngành kinh tế huyết mạch của đất nước, trong đó Ngân hàng Nhà nước là cơ quan có chức năng hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Chính sách tiền tệ lại có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế. Một chính sách tiền tệ mạnh với các công cụ điều hành chính chặt chẽ, linh hoạt sẽ tác động tốt đến sự phát triển của nền kinh tế và đương nhiên sẽ góp phần ổn định xã hội…

Các tổ chức tín dụng ở nước ta, đặc biệt là các NHTM có vai trò to lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế (trong đó các NHTM nhà nước có vai trò chủ đạo), trong những năm qua đã thực hiện tốt sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về tín dụng, lãi suất, ngoại hối… đã cung ứng cho nền kinh tế một khối lượng vốn rất lớn, góp phần mở rộng sản xuất cả về quy mô cũng như chất lượng sản phẩm. Trong thời gian nước ta bị lạm phát cao trong năm 2008, các NHTM tuy bị gặp khó khăn về thanh khoản, về cho vay và đầu tư… nhưng do thực hiện tốt sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nên đến nay đã vượt qua và tiếp tục ổn định. Các NHTM nhà nước đã chủ động điều hành một cách linh hoạt cơ chế lãi suất và cho vay… góp phần kiềm chế lạm phát. Các NHTM nhà nước, đặc biệt là Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), vẫn đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá và đã thực hiện IPO thành công vào tháng 12/2008.

Bàn về thực hiện các biện pháp kích cầu nền kinh tế, một số chuyên gia cho rằng cần phải chú trọng đầu ra của sản phẩm nhưng một số nhà kinh tế khác cho rằng, về vai trò của ngành Ngân hàng đối với các biện pháp kích cầu nền kinh tế là rất quan trọng. Ông Phan Thế Ruệ – nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam khẳng định: trong kích cầu tiêu dùng, chính sách tiền tệ là quan trọng nhất. Ông Lê Đình Ân – Giám đốc Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch – Đầu tư) khẳng định để kích cầu tiêu dùng thì phải có tiền cho người dân… Theo chúng tôi, phải áp dụng và kết hợp một cách chặt chẽ giữa biện pháp về tiền tệ, tài chính để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu, kích cầu tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiếp tục kiềm chế lạm phát. Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chủ động thực hiện các biện pháp vừa góp phần ổn định hệ thống, tiếp tục chống lạm phát, vừa góp phần kích cầu nền kinh tế theo Nghị quyết số 30 nêu trên của Chính phủ. Trả lời phỏng vấn báo Nhân dân, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Trước những tác động của cuộc khủng hoảng này, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để tiếp tục kiềm chế lạm phát, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, bằng việc giữ ổn định thị trường tiền tệ, bảo đảm an toàn của các tổ chức tín dụng, đồng thời có chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ sản xuất khắc phục khó khăn, duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh; kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng năm 2008 ở mức hợp lý, bảo đảm khả năng thanh khoản cho các tổ chức tín dụng ở mức cao, giảm dần lãi suất cho vay; điều hành tỉ giá phù hợp với quan hệ cung – cầu của thị trường nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu”. Các biện pháp cụ thể đã được triển khai:

- Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất và các công cụ khác để tiếp tục hỗ trợ các NHTM có khả năng đảm bảo thanh khoản ở mức cao; điều tiết lãi suất huy động và cho vay của NHTM theo hướng ổn định và giảm dần. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai thực hiện một số biện pháp:

+ Điều chỉnh giảm dần các mức lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm hiện nay là 8,5%/năm, tương đương với đầu năm 2008, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 14%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống 12%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giảm từ 15%/năm xuống 14%/năm); và tiếp tục giảm các mức lãi suất trên trong tháng 12/2008 ở mức hợp lý.

+ Tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng từ 5%/năm tăng lên 10%/năm;

+ Thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN dưới hình thức bắt buộc phát hành kể từ ngày 17/3/2008 theo nhu cầu rút trước hạn của các TCTD.

- NHNN phối hợp với NHTM theo dõi chặt chẽ diễn biến trên thị trường tài chính, tiền tệ thế giới, đánh giá, nhận định về các khả năng có thể xảy ra đối với nền kinh tế và thị trường tiền tệ Việt Nam để dự báo, có phương án và thực hiện các biện pháp để xử lý các tình huống rủi ro có thể xảy ra.

- Ban hành Chỉ thị số 05/2008/CT-NHNN ngày 9/10/2008 về một số biện pháp đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động kinh doanh của TCTD; trong đó, chỉ đạo các TCTD theo dõi, dự báo và chủ động các biện pháp để ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra; chấp hành đúng các quy định về tỷ lệ an toàn; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, chú trọng phân tích, đánh giá, phân tích dự báo sát những biến động về cung cầu ngoại tệ trên thị trường có thể gây áp lực lên tỷ giá, có biện pháp can thiệp kịp thời để ổn định cung – cầu ngoại tệ và bình ổn tỷ giá trên thị trường.

- Đối với việc quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước, ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và một số nước, NHNN đã chủ động thực hiện các biện pháp theo hướng ưu tiên cho đảm bảo an toàn và thanh khoản ở mức cao, thứ đến là sinh lời, bằng việc điều khiển các khoản đầu tư tiền gửi tại các ngân hàng sang NHTW các nước phát triển.

Trong thời gian tới, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung tại mục Nghị quyết 30/NQ30/NQ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ.

(Nguồn: . Tài liệu giao ban báo chí của NHNN. ATP ngày 5/10/2008. Theo: “Tổng hợp đánh giá của các nhà nghiên cứu kinh tế”.)

NGUỒN: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 1+2/2009

About these ads