1. Một số kết quả đã đạt được

Công tác giám sát cho thấy, số hộ thuộc diện thụ hưởng chính sách trên toàn quốc là 475.408 hộ /3.929 tỷ đồng (nhu cầu kinh pmien-nuihí sau khi điều chỉnh là 4.473, 9 tỷ đồng). Trong đó, số hộ cần hỗ trợ nhà ở: 337.832 hộ /1.833, 215 tỷ đồng; số hộ cần hỗ trợ đất ở: 87.882 hộ /1.744 ha/9 tỷ đồng; số hộ cần hỗ trợ đất sản xuất: 237.616 hộ /81.656 ha/413 tỷ đồng; số hộ cần hỗ trợ công trình cấp, trữ nước phân tán: 283.353 hộ /104, 22 tỷ đồng; số hộ cần hỗ trợ công trình cấp nước tập trung: 500.000hộ/6.040 công trình /1.750, 6 tỷ đồng; hỗ trợ vốn đối ứng cho các địa phương là 379,2 tỷ đồng. Đến hết năm 2007, việc thực hiện chính sách trên đã đạt được các kết quả cụ thể:

Về nhà ở: Đây là mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo và hầu hết các địa phương ưu tiên thực hiện nên kết quả đạt được cao nhất, đã hỗ trợ nhà ở cho 330.293 hộ, đạt tỷ lệ 98% số hộ theo kế hoạch ban đầu và 89% số hộ sau khi điều chỉnh bổ sung. Các địa phương đạt tỷ lệ cao và bảo đảm cả về số lượng, chất lượng là Quảng Nam, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ… ở các địa phương này, nhà ở hỗ trợ đủ tiêu chuẩn ba cứng: nền cứng, vách cứng và mái cứng. Nhiều địa phương đã trích ngân sách đối ứng (20%); có nơi còn huy động thêm các nguồn khác từ các tổ chức, doanh nghiệp để hỗ trợ cho các hộ gia đình; có tỉnh hỗ trợ bằng hình thức cho phép tận thu cây trồng, gỗ rừng để làm nhà, nên mặc dù ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ 5 – 6 triệu đồng /nhà, nhưng thực tế giá trị của các căn nhà bình quân từ 7- 10 triệu đồng. Một số hộ gia đình nhờ đầu tư thêm và vay mượn nên xây được những căn nhà kiên cố hơn với giá trị từ 20 – 30 triệu đồng.

Tuy vậy, một số nơi diện tích nhà ở còn chật chội, tường không được trát mặt ngoài, dễ xuống cấp nhanh như nhà ở của đồng bào khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Về đất ở: Đã hỗ trợ được 77% số hộ với 71% diện tích theo kế hoạch ban đầu và 78% số hộ với 74% diện tích sau khi điều chỉnh, bổ sung. Một số tỉnh có quỹ đất đã quy hoạch được những khu dân cư mới, gắn với quy hoạch lâu dài của địa phương. Đây là những khu dân cư đẹp được tăng cường về đường giao thông, điện, nước cấp cho các hộ; một số nơi vận động anh em, bà con họ hàng chia sẻ, sang nhượng diện tích đất xây dựng nhà ở cho người còn khó khăn nên cơ bản hoàn thành chỉ tiêu hỗ trợ đất ở.

Về đất sản xuất: Đây là nội dung khó khăn nhất trong quá trình thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của nhiều địa phương. Mặc dù có rất nhiều cố gắng, nhưng trên cả nước mới giải quyết được cho 70.549 hộ với tổng diện tích 25.151ha, đạt 31% diện tích và 30% số hộ. Còn 14 tỉnh chưa thực hiện được do gặp khó khăn về quỹ đất và cơ chế chính sách.

Về nước sinh hoạt: Các tỉnh đã xây dựng được 3.117 công trình cấp nước tập trung, đạt 52% kế hoạch ban đầu và 47% kế hoạch bổ sung. Đối với các công trình  cấp nước, trữ nước phân tán cho các hộ đồng bào dân tộc ở phân tán vùng cao, núi đá, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt, các tỉnh đã hỗ trợ cho 148.816 hộ, đạt 53% số hộ so với kế hoạch ban đầu và 51% số hộ sau khi đã điều chỉnh.

Những kết quả trên có được là do chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn với phương thức đầu tư trực tiếp đến hộ – đó là phương thức đúng đắn – nhằm giải quyết yêu cầu bức xúc về đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt của đồng bào các dân tộc. Chính sách đã phát huy nội lực trong đồng bào với phương châm nhân dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ, trên nguyên tắc bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng đến từng hộ, phù hợp với phong tục tập quán, văn hoá của mỗi dân tộc, vùng miền, phù hợp với điều kiện thực tiễn và gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đây là một chính sách hợp lòng dân, phù hợp với hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước và tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của đường lối chính sách dân tộc của Đảng ta là không ngừng chăm lo cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc theo nguyên tắc: các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Việc tổ chức thực hiện đã có những bước tiến bộ hơn. Cơ quan thường trực là ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành ở trung ương tích cực hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các địa phương được kiện toàn về tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc (theo Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/02/2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc ủy ban nhân dân các cấp) với 52 tỉnh có Ban Dân tộc; 334 huyện có Phòng Dân tộc và hàng ngàn xã có cán bộ kiêm nhiệm theo dõi công tác dân tộc đã góp phần rất quan trọng trong triển khai thực hiện; thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo các cấp từ tỉnh đến huyện, xã để tổ chức thực hiện khẩn trương, kịp thời. Quy trình lập đề án, tiến hành lựa chọn, bình xét các đối tượng được thực hiện theo quy định, việc thẩm định, phê duyệt được công khai, dân chủ, thống nhất từ cơ sở, đúng đối tượng, địa bàn, không có thắc mắc, khiếu kiện trong quá trình thực hiện chính sách, tạo điều kiện cho các địa phương có cơ sở thực hiện việc lồng ghép các chương trình mục tiêu trên cùng một địa bàn nhằm phát huy hiệu quả các công trình được đầu tư. Nhiều địa phương tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách để đồng bào nhận thức được nội dung của chính sách phát huy được nội lực trong cộng đồng và truyền thống tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách của đồng bào. Trong quá trình thực hiện chưa phát hiện sai phạm, tham ô, tham nhũng, thất thoát, lãng phí do công tác quản lý, cấp phát vốn từ trung ương đến các địa phương khá tốt và công khai, minh bạch chính sách đến tận hộ dân.

2. Những vướng mắc 

Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, việc thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg còn một số tồn tại sau:

Các tỉnh vẫn còn để sót, để thiếu đối tượng thụ hưởng do thời gian xây dựng đề án ngắn, gấp gáp trên địa bàn rộng, số hộ thuộc diện thụ hưởng chính sách nhiều nên việc điều tra, khảo sát triển khai vội, thiếu chính xác, một số gia đình lợi dụng thời điểm tách hộ để hưởng chính sách, chưa đúng đối tượng thực sự là hộ nghèo, khó khăn. Một số nơi người dân vẫn có tư tưởng cho rằng, nhà nước cho tiền để làm nhà ở cho dân, do việc tuyên truyền, phổ biến chính sách tại đó chưa đầy đủ.

Việc giải quyết nguồn lực về vốn hai năm đầu chưa tốt và chất lượng công trình đạt thấp do giá vật liệu xây dựng, giá đất, nhân công tăng cao; nhiều tỉnh rất khó khăn về nguồn thu ngân sách, đối tượng hộ nghèo lại cao, nên không có 20% vốn đối ứng.

Việc giải quyết đất ở còn bất cập về xây dựng nhà ở tự phát và phân tán, có nơi quá chật hẹp không có diện tích vườn do địa phương chưa gắn với việc sắp xếp, quy hoạch khu dân cư hoặc còn lệ thuộc nhiều vào tập quán sinh hoạt của đồng bào. ở một số địa phương, chất lượng công trình nước sinh hoạt còn thấp, mới làm xong đã hư hỏng do mức đầu tư trên một công trình không cao. Nhiều nơi, ý thức quản lý của đồng bào chưa tốt nên công tác quản lý, sử dụng, khai thác các công trình sau khi đưa vào sử dụng nhìn chung chưa được chú trọng đúng mức.

Đất sản xuất là vấn đề khó khăn nhất trong bốn nội dung của chính sách. Hiện nay, nhiều tỉnh không thực hiện được do không còn quỹ đất (hoặc có thực hiện nhưng kết quả thấp), nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Chính sách thay thế nội dung hỗ trợ đất sản xuất cho các địa phương không còn quỹ đất sản xuất để cấp cho các hộ thiếu đất chậm được ban hành do việc khảo sát, nghiên cứu xây dựng đề án rất khó khăn, các giải pháp khó thực hiện; trong khi đó, nhiều địa phương lúng túng chưa có phương án giải quyết còn trông chờ vào chính sách của trung ương. Công tác thu hồi đất của các nông trường, lâm trường gặp nhiều khó khăn do một số chính sách chồng chéo, nhất là xử lý vấn đề đền bù trên đất; có nơi giải quyết được thì chất lượng đất xấu, xa khu dân cư, gây khó khăn trong việc đầu tư, quản lý của đồng bào nên khi giao đất, đồng bào không nhận hoặc nhận nhưng không thể sử dụng được.

Ngoài những nguyên nhân nêu trên còn do việc chỉ đạo thực hiện chính sách chưa thực sự quyết liệt tại một số địa phương, có nơi khoán trắng cho cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm và sự phối hợp chỉ đạo giữa tỉnh, huyện, xã một số nơi thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ; công tác, giám sát, kiểm tra, thanh tra còn hạn chế.

3. Giải pháp

Vì khối lượng thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg còn khá nhiều (30% đất ở; 70% đất sản xuất và 50% nước sinh hoạt) mà thời gian chỉ còn năm 2008, trong bối cảnh các bộ, ngành, địa phương lại phải sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tình hình lạm phát diễn biến phức tạp, thiên tai dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi thì, để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, cần khẩn trương thực hiện một số giải pháp:

Việc giải quyết nước sinh hoạt, chủ yếu là các công trình nước tập trung phải gắn với quy hoạch, xây dựng các điểm dân cư tập trung đông người. Đồng thời, rà soát tất cả các chương trình, dự án có liên quan để lồng ghép, loại bỏ những nội dung trùng lắp trên cơ sở đó tập trung nguồn lực đầu tư thiết thực và có hiệu quả; gắn với đó là giải quyết đất ở, nhà ở cho đồng bào. Các công trình nước sinh hoạt tập trung sau khi xây dựng xong thì bàn giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng phải có quy chế quản lý, duy tu, bảo dưỡng do người dân thực hiện.

 Về giải quyết đất sản xuất, nên giao cho các địa phương chủ động theo hướng tổng hợp, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông – lâm nghiệp và nông thôn vùng dân tộc thiểu số, giải quyết đất canh tác gắn với giao đất, giao rừng, đào tạo nghề, thu hút con em người dân tộc thiểu số vào các ngành nghề phi nông nghiệp, phát triển làng nghề truyền thống và xuất khẩu lao động. Tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào một cách bền vững và tăng hệ số sử dụng đất, giảm áp lực thiếu đất sản xuất. Các doanh nghiệp đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn cần có trách nhiệm về tuyển lao động, đào tạo lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ để giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho đồng bào. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở đồng bằng sông Cửu Long, các địa phương khẩn trương triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xất, vay vốn để sản xuất, học nghề và đi xuất khẩu lao động cho đồng bào theo chính sách mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 9/6/2008; đồng thời tăng cường tuyên truyền phổ biến chính sách để đồng bào thấy rõ quyền lợi và trách nhiệm trong thụ hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước để yên tâm chăm lo sản xuất, ổn định đời sống, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.

Các địa phương khắc phục khó khăn trong điều kiện kinh tế hiện nay và khi kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc (trong đó có nội dung không còn Phòng Dân tộc cấp huyện – theo Nghị định 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), khi rà soát lại các dự án thì ưu tiên huy động nguồn lực của địa phương để thực hiện các dự án nhằm hoàn thành các chỉ tiêu theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg. Tăng cường đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc, tháo gỡ kịp thời những khó khăn để thực hiện đạt kết quả cao nhất. Tổ chức tổng kết vào đầu năm 2009, từ đó đề xuất chính sách phù hợp thay thế Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg để tiếp tục hỗ trợ cho đồng bào.

Để phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số, đề nghị Quốc hội ưu tiên cho việc phân bổ ngân sách hàng năm dành cho các chương trình mục tiêu đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được phê duyệt; tiếp tục nghiên cứu, xem xét bổ sung, điều chỉnh một số điều trong Luật Đất đai năm 2003, trong đó quan tâm đến những nội dung quy định về trách nhiệm, quyền lợi đối với đồng bào dân tộc thiểu số như: các điều kiện quy đinh trong đền bù, mua bán, sang nhượng đất ở, đất sản xuất và khi các tổ chức, cá nhân lấy đất của đồng bào để sử dụng sản xuất – kinh doanh thì cần có những trách nhiệm cụ thể để bảo đảm cuộc sống lâu dài cho đồng bào dân tộc…; sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng quan tâm tới nội dung để cho người dân tộc thiểu số làm chủ rừng thực sự và sống bằng nghề rừng sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh vùng dân tộc thiểu số và miều núi nước ta. Đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục chỉ đạo Hội đồng Dân tộc và các ủy ban tăng cường công tác giám sát các chương trình mục tiêu, dự án, chính sách phát triển kinh tế – xã hội đang triển khai thực hiện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. /.

NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 126, THÁNG 7/2008

About these ads