ThS. TRẦN VŨ HẢI – ĐH LUẬT HN

1. Những đặc trưng cơ bản của thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hiện nay

Thuế thu nhập là sắc thuế trực thu được ban hành nhằm phân phối một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp cho nhà nướmoneyclock-main_fullc. Thuế thu nhập thường được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng chịu thuế là thu nhập từ hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp. Trong khi đó, thuế TNCN là loại thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập của các cá nhân. Cá biệt có một số quốc gia, thuế TNCN được xác định như là một loại thuế mà chủ thể nộp thuế là hộ gia đình([i]), hoặc nhà nước ban hành thuế thu nhập áp dụng chung cho cả doanh nghiệp và cá nhân.([ii])

Thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay được quy định trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Do mục đích ban hành là chỉ nhằm điều tiết thu nhập đối với những cá nhân được coi là có thu nhập cao, nên phạm vi điều chỉnh của loại thuế này ở Việt Nam về cơ bản là hẹp hơn thuế TNCN ở những quốc gia khác. Ngoài những đặc trưng chung của một sắc thuế, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành có một số đặc trưng sau đây:

a. Thuế TNCN hiện nay hướng đến những cá nhân có thu nhập cao, với mục đích kiến tạo sự công bằng hơn là mục tiêu tăng thu ngân sách.

Ngay trong phần mở đầu của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1991 đã nêu rõ, việc ban hành sắc thuế này là để: “góp phần thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân có thu nhập cao cho ngân sách nhà nước”. Có thể nhận thấy trong suốt thời gian qua, thuế TNCN mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi nhưng mục đích chỉ thu thuế đối với những người có thu nhập vượt hơn hẳn mức thu nhập bình quân của một cá nhân vẫn được duy trì.      

b. Thuế TNCN hiện nay không áp dụng đối với thu nhập có nguồn gốc kinh doanh của cá nhân.

Hiện nay, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Mặc dù các chủ thể trên đây không phải là doanh nghiệp nhưng việc quy định này có ý nghĩa như là sự khuyến khích đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân vì thuế thu nhập doanh nghiệp không đánh thuế theo thuế suất luỹ tiến.

2. Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN hiện nay

Trong những năm qua, việc thực thi pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã đem lại những kết quả nhất định. Một là, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao góp phần tạo nguồn thu ngày càng đáng kể cho ngân sách nhà nước. Theo số liệu dự toán ngân sách năm 2007, số thu từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nhiều gấp 3 lần tổng số thu các loại thuế về đất.([iii]) Hai là, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Quy định về ngưỡng chịu thuế suất dương (tức là mức thu nhập bắt đầu phải đóng thuế với mức thuế suất lớn hơn 0%) được đánh giá là phù hợp với sự gia tăng mức thu nhập bình quân, nên thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở khu vực thành thị. Bên cạnh đó, những khoản thu từ thuế, trong đó có thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, sẽ đảm bảo cho Nhà nước có khả năng cung cấp ngày càng tốt hơn các khoản chi phúc lợi xã hội, giúp cho những người nghèo cơ hội có được mức sống cải thiện hơn. Ba là, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là sự chuẩn bị cần thiết trước khi triển khai thuế TNCN một cách toàn diện. Việc áp dụng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong nhiều năm qua đã làm cho người dân “quen” dần với loại thuế này. Tâm lí quen thuộc cùng với những hiểu biết ngày càng nhiều hơn về thuế TNCN cũng như trách nhiệm công dân trong việc thực thi nghĩa vụ thuế sẽ góp phần đáng kể cho quá trình triển khai hiệu quả Luật thuế TNCN trong tương lai không xa. Bên cạnh đó, những kinh nghiệm quý trong việc thực thi thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sẽ giúp cho các cơ quan quản lí nhà nước trong việc quản lí thu nhập và quản lý quy trình thu nộp thuế, đảm bảo hạn chế phát sinh tiêu cực khi Luật thuế TNCN được triển khai thực hiện (khi đó, sẽ có số lượng chủ thể nộp thuế đông đảo hơn hiện nay, do vậy việc quản lý thuế sẽ phức tạp hơn).

Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong thời gian qua việc thực hiện pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao còn bộc lộ nhiều bất cập. Trong nội dung bài viết này, xin được đề cập những hạn chế chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, những quy định pháp luật hiện hành về thuế TNCN còn nhiều bất cập. Những bất cập này sẽ được đề cập trong phần sau của bài viết này.

- Thứ hai, việc quản lí thu nhập của cá nhân hiện nay còn nhiều hạn chế, do đó cơ quan thuế không có khả năng kiểm soát tốt TNCN, dẫn đến có nhiều trường hợp trốn, lậu thuế.

Một trong những nguyên nhân cơ bản là hiện nay nước ta chưa có hệ thống các quy định pháp lí cần thiết để minh bạch thu nhập. Với những cố gắng rất lớn của cơ quan lập pháp, Luật phòng, chống tham nhũng ngày 9/12/2005 đã ra đời và có hiệu lực ngày 01/6/2006, gần đây được cụ thể hoá bằng Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007. Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lí để một số chủ thể phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, góp phần kiểm soát thu nhập. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, các văn bản này nhằm kiểm soát và ngăn chặn những thu nhập không hợp pháp chứ không phải nhằm quản lí nguồn thu nhập hợp pháp để xác định nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, những chủ thể có nghĩa vụ kê khai thu nhập rất hẹp, chỉ bao gồm những chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ đó có thể khẳng định, hệ thống những quy định nhằm quản lí thu nhập chịu thuế thu nhập hiện còn rất sơ sài.

- Thứ ba, ý thức của nhân dân về thuế TNCN vẫn còn thấp. Ở những quốc gia phát triển, thuế TNCN đã có lịch sử hàng trăm năm và do đó người dân cảm thấy quen với nghĩa vụ đóng thuế. Ở Việt Nam, mặc dù thuế lợi tức cá nhân đã từng được chính quyền Bảo Đại và sau đó là chính quyền Việt Nam cộng hoà áp dụng (đối với khu vực phía nam) nhưng sau đó bị bãi bỏ nên hiện nay người dân chưa quen với tâm lí là người nộp thuế. Chính vì vậy, trừ những trường hợp khấu trừ thuế tại nguồn được các tổ chức chi trả thu nhập thực hiện đối với thu nhập của những người làm công ăn lương hoặc người cung cấp dịch vụ, còn lại những cá nhân hành nghề tự do thường không thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế. Bên cạnh đó, thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán của người Việt Nam được coi là một trở ngại đáng kể cho công tác hành thu thuế nói chung và đối với thuế TNCN nói riêng. Việc sử dụng tiền mặt phổ biến làm cho công tác giám sát thu nhập của cơ quan chức năng bị hạn chế, đồng thời tạo cơ hội cho các chủ thể che giấu nguồn thu nhập hoặc dịch chuyển tài sản, từ đó không khai báo để nộp thuế theo quy định.

3. Những hạn chế của pháp luật thuế TNCN hiện hành

- Thứ nhất, pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện nay có phạm vi điều chỉnh tương đối hẹp.

Phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là áp dụng cho những thu nhập phi kinh doanh của những người có thu nhập cao, do vậy số chủ thể thuộc diện chịu thuế không nhiều. Điều này không những ảnh hưởng đến hiệu quả thu ngân sách mà còn làm cho thuế TNCN mất cơ hội phổ biến rộng rãi đến nhân dân, tạo tiền đề cần thiết cho việc áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân sau này.

Qua nhiều lần sửa đổi, quy định về ngưỡng chịu thuế suất dương, người viết nhận thấy tốc độ gia tăng mức khởi điểm chịu thuế suất dương trong những lần sửa đổi gần đây còn nhanh hơn mức độ gia tăng bình quân của thu nhập quốc dân.([iv]) Chính vì vậy, số lượng cá nhân đóng thuế thu nhập có xu hướng giảm và tỉ trọng thuế thu nhập trên tổng thu ngân sách hầu như không tăng trong suốt những năm qua. Đây là một thực tế cần suy ngẫm bởi lẽ trong giai đoạn hiện nay, có nhiều lí do để ngân sách nhà nước phải kì vọng vào thuế TNCN hơn trước đây.

- Thứ hai, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành chưa thật sự công bằng.

Công bằng là tiêu chuẩn, đồng thời là mục tiêu mà một hệ thống thuế phải đạt tới. Hiện nay, nhiều quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao chưa thực sự công bằng, làm ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế và dễ tạo ra tâm lí “phản kháng” của chủ thể nộp thuế.

+ Một là, còn phân biệt biểu thuế áp dụng đối với công dân Việt Nam và người nước ngoài.

Hiện nay, biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho công dân Việt Nam có mức khởi điểm chịu thuế suất dương thấp hơn, đồng thời độ dốc luỹ tiến lại cao hơn so với người nước ngoài. Điều đó có nghĩa, với cùng một mức độ thu nhập, công dân Việt Nam phải nộp thuế nhiều hơn người nước ngoài. Quy định này đã từng được giải thích là nhằm khuyến khích người nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam để mang theo kinh nghiệm quản lí, kĩ thuật tiên tiến, v.v.. Tuy nhiên, những lí do này không đủ thuyết phục vì nó làm mất đi sự công bằng đối với công dân Việt Nam, đồng thời cho thấy Nhà nước đã “làm thay” doanh nghiệp trong việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Nhà nước đã chính thức xoá bỏ những quy định “hai giá” để phân biệt mức giá chi tiêu giữa người Việt Nam và người nước ngoài thì cũng đã đến lúc phải xoá bỏ sự phân biệt thuế suất giữa hai nhóm chủ thể này.

+ Hai là, không khấu trừ chi phí sinh hoạt, các chi phí khác để tạo ra thu nhập.

Việc không khấu trừ chi phí tạo ra thu nhập là đặc điểm khác biệt rất quan trọng giữa việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao với thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Mặc dù việc khấu trừ thu nhập đối với cá nhân là việc làm không đơn giản([v]), nhưng rõ ràng, nếu không khấu trừ chi phí thì sẽ làm ảnh hưởng đến tính công bằng của thuế. Ví dụ: Hai người có mức thu nhập bình quân tháng bằng nhau nhưng một người phải nuôi người phụ thuộc sẽ có mức chi phí cao hơn trong khi vẫn phải nộp thuế giống như người sống độc thân. Mặc dù pháp luật hiện hành đã khấu trừ chi phí cho một số đối tượng nhưng như thế lại làm cho sự công bằng càng bị ảnh hưởng vì những chủ thể khác không được hưởng ưu đãi này.([vi])

+ Nhiều khoản thu nhập bị “bỏ qua”, không bị đánh thuế.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, rất nhiều khoản thu nhập của cá nhân đã bị bỏ qua, không đưa vào diện thu nhập chịu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao như: Các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản, quà biếu, quà tặng, thừa kế… Về mặt lí luận, thuế TNCN phải được đánh trên toàn bộ thu nhập của cá nhân mới đảm bảo tính công bằng của thuế. Về thực tiễn, hiện nay có rất nhiều cá nhân có thu nhập cao từ những hoạt động kể trên mà không bị đánh thuế nên gây lãng phí nguồn thu cho ngân sách.

- Thứ ba, việc quy định thu thuế tại nguồn đã gây ra những khó khăn trong việc xác định chính xác số thuế phải nộp.

Để đảm bảo khả năng điều tiết thu nhập, thuế TNCN thường quy định thuế suất lũy tiến áp dụng cho tổng thu nhập chịu thuế. Bên cạnh đó, để đảm bảo việc thu thuế, pháp luật quy định tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập đối với khoản thu nhập được chi trả để nộp cho cơ quan thuế. Riêng đối với những khoản chi phí mua ngoài như thù lao tư vấn, tiền công sửa chữa v.v., việc khấu trừ được xác định là 10% trên khoản thu nhập từ 500 ngàn đồng trở lên. Quy định như vậy có ưu điểm là đảm bảo thu được thuế, tránh việc trốn thuế, lậu thuế. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện đăng kí, kê khai nộp thuế thu nhập đối với từng cá nhân chưa được áp dụng rộng rãi và triệt để, thì cách thu thuế như vậy sẽ không chính xác.([vii])

4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam

a. Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc xây dựng Luật thuế TNCN ở Việt Nam

- Thuế TNCN phải được quy định phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định: “Áp dụng thuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lí thu nhập”.

Như vậy, Luật thuế TNCN cần xác định phạm vi điều chỉnh rộng hơn nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong đánh thuế thu nhập theo hướng mọi cá nhân có thu nhập đều phải chịu thuế. Việc đánh thuế TNCN sẽ không phân biệt cá nhân kinh doanh hay không kinh doanh, cá nhân là người nước ngoài hay công dân Việt Nam.

- Luật thuế TNCN phải là công cụ hữu hiệu để Nhà nước tăng thu ngân sách, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỉ trọng các nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỉ lệ thu từ thuế trực thu”. Ở các quốc gia phát triển, tỉ trọng thuế TNCN trên tổng thu ngân sách là khá cao, trong khi đó tại Việt Nam số thu này là không đáng kể. So với các sắc thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì thuế TNCN đảm bảo công bằng tốt hơn, vì vậy, việc tăng nguồn thu từ thuế trực thu là yêu cầu hợp lí và cần thiết. Bên cạnh việc mở rộng đối tượng điều chỉnh, Luật thuế TNCN cần bao quát được các nguồn thu của cá nhân, đồng thời hạn chế hiện tượng tránh thuế, lậu thuế. Bên cạnh đó, cần xác định một mức thuế suất hợp lí để vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhưng đồng thời cũng không gây áp lực lên chủ thể nộp thuế.

- Luật thuế TNCN phải là công cụ để đảm bảo công bằng xã hội.

Thực hiện công bằng xã hội là nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung và pháp luật luôn được coi là công cụ hữu hiệu. Luật thuế TNCN cần phải đảm bảo khả năng điều tiết thu nhập hợp lí đối với cá nhân có thu nhập. Về lí thuyết, pháp luật càng cá thể hoá nghĩa vụ nộp thuế bao nhiêu thì càng có thể đảm bảo công bằng bấy nhiêu. Tuy nhiên, vấn đề này cũng có tính hai mặt, bên cạnh việc đảm bảo công bằng tốt hơn, việc cá thể hoá nghĩa vụ nộp thuế cũng có thể làm sai lệch bản chất công bằng.

Luật thuế TNCN còn phải đảm bảo việc khấu trừ những chi phí một cách hợp lí để duy trì cuộc sống có chất lượng của cá nhân nộp thuế và tiếp tục tạo ra thu nhập. Để thuận tiện cho việc áp dụng, những chi phí này khó có thể cá thể hoá đến từng cá nhân nộp thuế nên việc khấu trừ khống là cần thiết cho công tác hành thu thuế. Tuy nhiên, khấu trừ những khoản chi phí nào, mức khấu trừ bao nhiêu, phương thức khấu trừ như thế nào là những vấn đề lớn cần được cân nhắc, tính toán kĩ trên cơ sở những số liệu điều tra cụ thể, chính xác, không nên thiết kế một cách áp đặt hoặc chung chung khó áp dụng. Về nguyên tắc, những khoản chi phí sau đây cần được khấu trừ:

+ Chi phí sinh hoạt bình quân của người nộp thuế;

+ Chi phí nuôi dưỡng người phụ thuộc;

+ Chi phí tạo ra thu nhập: Tiền đầu tư vốn, chi phí kinh doanh, v.v..

+ Chi phí phục hồi sức lao động hoặc bồi thường: Tiền khám chữa bệnh không do bảo hiểm chi trả, tiền bồi thường thiệt hại…

Để đảm bảo việc áp dụng được chính xác và thuận tiện, việc quy định các khoản chi phí được khấu trừ phải hết sức cụ thể, chính xác và minh bạch.

- Luật thuế TNCN cần quy định phù hợp với thực tiễn nền kinh tế quốc dân.

Hiện nay, mức thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam còn thấp nên việc quy định mức thuế suất cần dựa trên nguyên tắc đảm bảo khuyến khích lao động sản xuất, tạo thu nhập ổn định và làm giàu chính đáng. Do đó, mức thuế suất phải được quy định dựa trên các nguyên tắc sau đây:

+ Mức thuế suất phải đảm bảo, sau khi nộp thuế, người nộp thuế vẫn phải có được mức thu nhập không thấp hơn mức thu nhập bình quân chung.

+ Khoảng cách giữa các mức thuế suất và khoảng cách về mức thu nhập chịu thuế của hai mức thuế suất cần xác định hợp lí, không quá xa nhằm đảm bảo công bằng và không gây xáo trộn về nghĩa vụ thuế.([viii])

- Luật thuế TNCN phải đảm bảo nguyên tắc hội nhập quốc tế.

Luật thuế TNCN phải thể hiện được tinh thần của các hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc chí ít cũng cần quy định các nguyên tắc áp dụng những hiệp định này trong việc xác định nghĩa vụ thuế của người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam hoặc thu nhập của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Nguyên tắc này cũng cho phép áp dụng biểu thuế thống nhất đối với tất cả các cá nhân, không kể đó là công dân Việt Nam hay người nước ngoài.

b. Một số kiến nghị cụ thể đóng góp cho việc xây dựng dự thảo Luật thuế TNCN

Hiện nay, dự thảo Luật thuế TNCN đang trong giai đoạn lấy ý kiến nhân dân lần cuối để chuẩn bị trình Quốc hội thông qua. Nghiên cứu dự thảo này, chúng tôi xin có một số đánh giá và kiến nghị như sau:

- Nếu quy định đánh thuế đối với thu nhập từ thừa kế và quà tặng thì phải đánh vào tất cả các tài sản chứ không nên chỉ áp dụng đối với tài sản là cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu doanh nghiệp, bất động sản như theo quy định của dự thảo. Nếu không, việc chuyển đổi tài sản hoặc chuyển dịch tài sản ảo sẽ xảy ra nhằm tránh thuế. Việc đánh thuế thừa kế đối với bất động sản là tài sản thừa kế khi người được thừa kế đã có nhà ở sẽ gây nhiều tranh cãi, vì không có chuẩn mực thế nào là “nhà ở”.([ix]) Mặt khác, có thể trước khi nhận thừa kế, người được thừa kế sẽ chuyển nhượng nhà ở của mình cho người khác. Do vậy, cần xác định việc đánh thuế đối với bất động sản thừa kế cũng giống như các tài sản thừa kế khác. Nếu đánh thuế vào tất cả các loại quà tặng thì thu nhập từ kiều hối cũng nên thuộc diện chịu thuế. Hiện nay, pháp luật chưa hề có định nghĩa nào về kiều hối, ngay cả trong Pháp lệnh ngoại hối 2005. Về bản chất, kiều hối là ngoại hối do người Việt Nam định cư, sinh sống ở nước ngoài gửi về cho thân nhân trong nước nên nó là một dạng quà tặng. Mặc dù chính sách của Nhà nước là khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài góp phần xây dựng quê hương nhưng sự bình đẳng trong nghĩa vụ thuế cũng rất cần được tôn trọng.

- Việc dự thảo Luật thuế TNCN quy định đánh thuế vào lãi góp vốn, cổ tức được chia là không hợp lí. Những khoản thu nhập này là phần còn lại được chia sau khi doanh nghiệp đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Về bản chất, khoản thu nhập từ lãi góp vốn, cổ tức được chia khác với lãi gửi ngân hàng, vì lãi gửi ngân hàng là khoản chi phí được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu nhà làm luật muốn điều tiết thu nhập, thì cần xác định những khoản thu nhập này vào thu nhập thường xuyên, chứ không phải thu nhập không thường xuyên như dự thảo quy định vì đây là khoản thu nhập có được theo định kì (thường là một năm).

- Không nên quy định thu nhập từ lãi mua trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc nhà nước vì như vậy sẽ không công bằng với những hình thức đầu tư khác như mua trái phiếu công ti, kì phiếu ngân hàng… Bởi lẽ, Nhà nước trong mối quan hệ với những người nắm giữ trái phiếu cũng giống như những tổ chức phát hành khác, đây là quan hệ dân sự nên không thể có đặc quyền dành riêng cho Nhà nước. Thiết nghĩ, Nhà nước cần thu hút nguồn vốn thông qua uy tín và niềm tin từ nhà đầu tư, chứ không phải là tạo ra vị thế cao hơn so với những tổ chức khác trong việc phát hành các công cụ vay nợ.

- Việc đánh thuế vào lãi cho vay nhưng không đánh thuế đối với lãi tiền gửi tiết kiệm là không hợp lí, bởi lẽ lãi tiền gửi tiết kiệm về bản chất cũng là lãi cho vay. Tuy tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng có quy chế pháp lí riêng([x]) nhưng không có khác biệt gì lớn so với các loại tiền gửi khác của cá nhân. Nếu quy định như vậy, chắc chắn việc đánh thuế với lãi tiền gửi ngân hàng đối với cá nhân sẽ không có hiệu quả, vì người dân sẽ chỉ sử dụng hình thức gửi tiền tiết kiệm. Không những thế, đây là sự không bình đẳng trong quy định về quyền huy động vốn của tổ chức tín dụng so với các loại hình doanh nghiệp khác. Chúng tôi ủng hộ việc không đánh thuế với lãi bảo hiểm nhân thọ nhằm khuyến khích người dân tham gia loại hình dịch vụ rất hữu ích này. Mặt khác, trong nhiều trường hợp, lãi bảo hiểm nhân thọ cũng tương tự như cổ tức, nghĩa là phần lợi nhuận được chia sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Trong trường hợp nộp thuế TNCN của cá nhân kinh doanh chưa đủ điều kiện áp dụng chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ (mà hiện nay nhóm chủ thể này rất phổ biến), theo chúng tôi, việc nộp thuế khoán là giải pháp hợp lí. Tuy nhiên, không nên giao quyền cho cơ quan thuế ấn định cả hai căn cứ tính thuế là doanh thu, chi phí và thuế suất mà chỉ nên ấn định doanh thu, chi phí để đảm bảo cho việc áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với nhóm chủ thể này. Bên cạnh đó, việc dự thảo chỉ đánh thuế vào chủ hộ kinh doanh mà không đánh thuế theo mức bình quân của từng cá nhân trong hộ sẽ dẫn đến tình trạng các thành viên khác (thường là người thân trong gia đình) sẽ được hưởng mức lương cao để làm giảm thu nhập nhằm tránh thuế.

- Đối với những khoản thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ, quà tặng, khuyến mại, trúng thưởng xổ số và các trò chơi có thưởng, không nên quy định mức khởi điểm là 10 triệu đồng mới đánh thuế nhằm hạn chế tình trạng tránh thuế, do việc đánh thuế trong những trường hợp này là đánh thuế từng lần. Ví dụ: Chia nhỏ giá trị chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại, quà tặng thành nhiều phần, mỗi phần là một hợp đồng có giá trị thấp hơn 10 triệu đồng thì sẽ không bị đánh thuế.

- Việc phân biệt đối tượng cư trú và không cư trú chỉ nên giới hạn trong việc xác định các thủ tục hành chính thuế, không nên phân biệt về nghĩa vụ thuế, vì sẽ không đảm bảo sự bình đẳng giữa đối tượng cư trú và không cư trú đối với cùng một loại thu nhập (ví dụ: Thu nhập từ hoạt động kinh doanh phải cùng xác định trên thu nhập bằng doanh thu trừ chi phí, không thể áp dụng trên doanh thu đối với riêng đối tượng không cư trú). Do đó, trừ những quy định nhằm đảm bảo tránh đánh thuế hai lần thì việc xác định nghĩa vụ thuế đối với những khoản thu nhập phát sinh ở Việt Nam của người không cư trú cần phải quy định bình đẳng với người cư trú. Bên cạnh đó, về kĩ thuật lập pháp, nếu việc đánh thuế đối với người cư trú và không cư trú là như nhau thì không cần phải quy định nhắc lại làm cho văn bản luật dài dòng, chỉ cần dẫn chiếu trong một điều luật là được.

- Cần quy định việc áp dụng các hiệp định tránh đánh thuế hai lần làm cơ sở đảm bảo quyền lợi đối với các đối tượng có thu nhập từ nhiều quốc gia khác nhau, không nên quy định chung chung về việc áp dụng điều ước quốc tế như trong Điều 10 của dự thảo.

- Không nên quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác định theo nguyên tắc: theo giá hợp đồng, nếu giá hợp đồng thấp hơn giá đất do UBND tỉnh quy định thì xác định theo giá đất của UBND tỉnh. Quy định như vậy tất yếu dẫn đến các bên tham gia hợp đồng chỉ ghi mức giá bằng với giá đất của UBND tỉnh đã công bố trong các lần chuyển nhượng và kết quả là Nhà nước không thu được thuế. Theo chúng tôi, việc xác định giá quyền sử dụng đất cũng cần phải dựa vào nguyên tắc thị trường như đối với các bất động sản khác và Chính phủ cần có những quy định cụ thể hướng dẫn việc xác định giá chuyển nhượng trong trường hợp giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng thấp hơn giá phổ biến trên thị trường.

- Quy định về mức chiết trừ gia cảnh cần lưu ý đến mặt bằng chi tiêu thực tế của các địa phương. Hiện nay, rõ ràng có những chênh lệch về chi phí khá lớn giữa các địa phương, ví dụ như giữa Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh với những tỉnh thành khác. Nếu mức thu nhập chịu thuế và mức chiết trừ gia cảnh giống nhau thì nơi nào có chi phí bình quân cao hơn thì người nộp thuế sẽ bị thiệt về thuế. Thiết nghĩ, dự thảo nên quy định việc tham gia quyết định của chính quyền cấp tỉnh trong việc xác định mức chiết trừ gia cảnh. Ví dụ: Nên quy định Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền điều chỉnh trong giới hạn nhất định theo quy định của Chính phủ về mức chiết trừ gia cảnh để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương./.

NGUỒN: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 10/2007


 

([i]). Ví dụ: Cộng hoà Pháp là quốc gia đánh thuế TNCN vào hộ gia đình. Theo đó, thu nhập của các cá nhân trong hộ, sau khi trừ đi các khoản chi phí sẽ chia đều cho số thành viên của hộ gia đình. Số thuế phải nộp sẽ được tính bằng cách áp dụng biểu thuế luỹ tiến cho một thành viên và nhân với tổng số thành viên của hộ. Với cách tính thuế này, nếu số thành viên của hộ nhiều thì sẽ nộp thuế ít hơn. (Xem thêm: Michel Bouvier, “Tài chính công”, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2003).

([ii]).Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, chính quyền Việt Nam cộng hoà ban hành Luật thuế lợi tức đánh vào thu nhập của cả doanh nghiệp và cá nhân nhưng căn cứ tính thuế và thuế suất có khác nhau.

([iii]).Xem: Quyết định số 3855/2006/QĐ-BTC ngày 24/11/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc công khai số liệu dự toán NSNN năm 2007.

([iv]).Trong 4 lần ban hành (1991, 1994, 1997, 2001), mức khởi điểm chịu thuế suất dương thường xấp xỉ bằng 5,8 lần mức thu nhập bình quân. Nhưng đến lần sửa đổi năm 2004, mức này là 6,9 lần. Xem: Tổng cục thống kê, http://www.gso.gov.vn

([v]). Thật khó có thể xác định mức chi phí thực tế để khấu trừ một cách công bằng vì sự lựa chọn sinh hoạt của từng cá nhân là khác nhau. Do vậy, pháp luật các quốc gia đều lựa chọn một giải pháp là xác định một số khoản chi phí khống. Chẳng hạn, nuôi một con nhỏ sẽ được khấu trừ 300.000 đồng/tháng.

([vi]). Không thể có lí do thuyết phục để giải thích: Một ca sĩ hoặc vận động viên, sẽ có mức chi phí vượt trội hơn hẳn một kĩ sư trong việc tạo ra thu nhập, nếu xem xét việc tạo ra thu nhập là một quá trình. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, ca sĩ sẽ được khấu trừ 25% thu nhập trước khi tính thuế, còn kĩ sư thì không.

([vii]). Ví dụ: Một người có 2 khoản thu nhập do 2 công ti chi trả trong vòng 1 tháng, mỗi công ti là 2.500.000 đồng/tháng. Với quy định hiện nay, anh ta sẽ bị khấu trừ 10%, mỗi công ti sẽ giữ lại 250.000 đồng tiền thuế. Trong khi đó, thực chất tổng thu nhập của anh ta chỉ là 5.000.000 đồng, tức số thuế phải nộp bằng 0 đồng. Về lí thuyết, anh ta có quyền yêu cầu cơ quan thuế tiến hành quyết toán thuế và hoàn thuế. Tuy nhiên trên thực tế, việc này rất khó khăn và thường bị bỏ qua.

      Nếu một người càng có nhiều khoản thu nhập ở nhiều nguồn khác nhau thì việc đánh thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần càng không chính xác.

([viii]). Theo pháp luật Trung Quốc hiện hành thì có 22 mức thuế suất, trong khi đó Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện nay chỉ có 5 mức thuế suất. Theo dự thảo Luật thuế TNCN gần đây nhất có quy định 7 mức thuế suất từ 5% đến 35% (các mức thuế suất cách nhau 5%)

([ix]). Luật nhà ở năm 2005 có quy định: Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân (Điều 1). Rõ ràng là vẫn không có tiêu chuẩn cụ thể nào về tiêu chuẩn kĩ thuật để xác định một công trình là nhà ở hay không.

([x]).Xem: Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm và Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN ngày 25/9/2006 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1160/2004/QĐ/NHNN.

About these ads